Bệnh hở van hai lá

28/01/2015
2ab737423f9a339ecb2482720c114e69.jpg

Bài viết được viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hoàng Hà - Trưởng khoa Phẫu thuật tim mạch - Trung Tâm Tim Mạch, Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hở van hai lá: Thấp tim, thoái hoá, dứt dây chằng van tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, bệnh mạch vành, bệnh cơ tim... Khoảng 2% dân số mắc bệnh này.

1. Biểu hiện như thế nào

Hầu hết những người hở van hai lá không có triệu chứng. Những người hở van hai lá nhẹ hoặc vừa có thể không bao giờ có triệu chứng hoặc biến chứng. Thậm chí những bệnh nhân hở van hai lá nặng trong giai đoạn đầu cũng không có triệu chứng cho đến khi suy tim trái, rối loạn nhịp hoạc tăng áp lực động mạch phổi. Bệnh nhân sẽ có các biểu hiện của suy tim với các triệu chứng: Mệt mỏi, khó thở khi gắng sức và muộn hơn xuất hiện cả khi nghỉ, phù hai chi dưới.

Hở van 2 lá
Hầu hết những người hở van hai lá không có triệu chứng

2. Chẩn đoán bệnh

Bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng để hướng đến chẩn đoán. Nghe tim sẽ phát hiện tiếng thổi tâm thu do dòng phụt ngược từ thất trái lên nhĩ trái tạo nên. Các thăm dò khác bao gồm:

Chụp Xq tim phổi: phát hiện tim lớn và ứ dịch phổi.

Điện tâm đồ: để phát hiện các rối loạn nhịp kèm theo. Điện tâm đồ cũng cho thấy ảnh hưởng của hở van hai lá với toàn bộ cấu trúc tim, các thương tổn hẹp tắc động mạch vành nếu có.

Tất cả các bệnh nhân nghi ngờ hở van hai lá đều được được chỉ định siêu âm tim nhằm khẳng định chẩn đoán và xác định mức độ hở van. Trên siêu âm tim cũng có thể chẩn đoán được nguyên nhân gây bệnh. Trên những bệnh nhân hở van hai lá nhiều nhưng không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ ràng có thể siêu âm tim định kỳ 6 tháng/lần để đánh giá mức độ giãn tâm thất trái cũng như thay đổi chức năng co bóp tâm thất trái. Từ đó xác định thời điểm thích hợp để phẫu thuật. Cũng có thể áp dụng siêu âm tim gắng sức để xác định mức độ hở van, áp lực động mạch phổi và dự trữ thất trái khi gắng sức cho những bệnh nhân không có triệu chứng. Những trường hợp siêu âm qua thành ngực không cho hình ảnh rõ ràng có thể siêu âm qua thực quản nhằm quan sát van hai lá gần hơn cho kết quả chính xác hơn.

Trong một số trường hợp nghi ngờ hở van hai lá là hậu quả của bệnh lý động mạch vành hoặc có bệnh lý động mạch vành kèm theo, cần chụp động mạch vành qua đường ống thông .

3. Diễn biến của bệnh

Bệnh nhân hở van hai lá nhẹ không cần phải theo dõi và thăm khám định kỳ. Những người bị hở mức độ vừa và nhiều, cần theo dõi và thăm khám định kỳ để có thể điều trị kịp thời. Tần suất thăm khám sẽ theo lời khuyên của bác sĩ dựa vào mức độ hở van, mức độ giãn tim và mức độ xuất hiện của triệu chứng. Nhìn chung khi đã có triệu chứng hoặc triệu chứng tăng lên cần thăm khám bác sĩ ít nhất 6 tháng/lần.

Nếu bệnh nhân không có triệu chứng, nhịp đều, kích thước tâm thất trái và tâm nhĩ trái bình thường, áp lực động mạch phổi bình thường có thể không cần hạn chế các hoạt động thể lực.

Hở van 2 lá

Ảnh hưởng của sinh nở cho bệnh nhân hở van hai lá : Thông thường bệnh nhân hở van hai lá thích nghi khá tốt với sinh đẻ nhất là các trường hợp hở không nhiều và không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ. Nhưng ngược lại nếu đã có triệu chứng hoặc biến chứng, rất có thể sẽ xuất hiện các biến chứng nặng khi sinh. Nếu bạn ở trong nhóm bệnh nhân sau và bạn cần sinh con, tốt nhất hãy gặp bác sĩ chuyên khoa tim mạch được tư vấn về nguy cơ của sinh đẻ và khả năng có thể phải phẫu thuật sửa hoạc thay van hai lá trước. Phẫu thuật van hai lá không được khuyến cáo trong khi bệnh nhân có thai, trừ các trường hợp cấp cứu.

Rung nhĩ trong bệnh hở van hai lá: là tình trạng rối loạn điện học ở tầng tâm nhĩ biểu hiện bằng nhịp nhĩ nhanh và không đều. Ở bệnh nhân hở van hai lá, bình thường lượng máu do tim bơm đi đã giảm, rung nhĩ càng làm lượng máu này giảm đi và tăng đáng kể nguy cơ đột quỵ, hoặc tắc mạch chi do hình thành cục máu đông trong các buồng tim. Bệnh nhân rung nhĩ được điều trị bằng các thuốc chống đông máu và có thể được dùng thuốc (hoặc shock điện) để chuyển nhịp về bình thường. Bệnh nhân bị rung nhĩ được khuyến cáo nên phẫu thuật sớm khi tâm nhĩ trái chưa giãn nhiều ảnh hưởng đến khả năng chuyển nhịp khi phẫu thuật.

4. Điều trị như thế nào

Quyết định điều trị như thế nào phụ thuộc vào mức độ hở van, triệu chứng của bệnh nhân cũng như nguyên nhân gây hở van hai lá. Hầu hết các bệnh nhân hở van hai lá nhiều sẽ phải điều trị phẫu thuật sửa chữa hoặc thay van hai lá. Trong một số trường hợp có thể trì hoãn phẫu thuật nếu bệnh nhân có các bệnh phối hợp.

Hở van 2 lá

Phẫu thuật sửa van hai lá: Sửa chữa phục hồi được chức năng van hai lá đóng kín, sẽ bảo tồn được chức năng cơ tim và tránh cho bệnh nhân phải dùng thuốc chống đông máu vĩnh viễn. Phẫu thuật sửa van hai lá thường phức tạp hơn thay van hai lá nên đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm về kỹ thuật này.

Phẫu thuật thay van hai lá : Khi thương tổn van nặng nề, nhất là khi do thấp tim hoạc hậu quả của bệnh hẹp tắc động mạch vành, nhiều trường hợp phải thay van hai lá. Có hai loại van nhân tạo được sử dụng: van cơ học (được làm từ kim loại) và van sinh học (được làm từ các sản phẩm sinh học như tim lợn hoạc màng tim của bò). Van cơ học có điểm bất lợi là cần phải dùng thuốc chống đông kháng vitamin K suốt đời. Còn van sinh học sẽ bị hỏng theo thời gian, nhất là ở những bệnh nhân dưới 65 tuổi. Nhìn chung van cơ học được dùng cho những bệnh nhân dưới 65 tuổi hoặc bị rung nhĩ ( bắt buộc phải dùng thuốc chống đông). Van sinh học dùng cho những bệnh nhân trên 65 tuổi. Có thể dùng van sinh học cho những bệnh nhân dưới 65 tuổi nhịp tim bình thường. Tuy nhiên cần giải thích cho bệnh nhân về lợi hại giữa việc sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K và nguy cơ phải thay van trong tương lai.

Phẫu thuật Maze: Khi bệnh nhân bị rung nhĩ, bác sĩ phẫu thuật có thể tiến hành thêm phẫu thuật Maze bằng cách tạo thêm những đường cắt trong các tâm nhĩ bằng sóng cao tần, siêu âm hoạc nhiệt độ lạnh để ngăn cản những dòng điện bệnh lý là nguyên nhân gây rung nhĩ. Phẫu thuật viên sẽ bàn bạc với bệnh nhân và gia đình về quyết định có tiến hành phẫu thuật Maze hay không vì phẫu thuật này sẽ làm thời gian mổ kéo dài và tăng nguy cơ xuất hiện một số biến chứng.

Điều trị bằng thuốc: Các thuốc điều trị có tác dụng làm giảm triệu chứng suy tim, giảm bớt gánh nặng cho tim và tránh các biến chứng như hình thành huyết khối trong tim hoạc nhiễm khuẩn van hai lá.

Nhóm thuốc giãn mạch (ví dụ thuốc ức chế men chuyển) làm cho máu lưu thông tốt hơn và giảm gánh nặng tâm thất trái. Tuy nhiên cũng chưa thực sự chứng minh hiệu quả của thuốc này khi điều trị kéo dài cho bệnh nhân hở van hai lá.

Thuốc chống đông kháng vitamin K được chỉ định cho những bệnh nhân bị rung nhĩ hoạc sau khi bệnh nhân đã thay van hai lá cơ học.

Hầu hết bệnh nhân hở van hai lá không cần dùng thuốc kháng sinh trước khi làm các thủ thuật về răng miệng và đường hô hấp trên. Tuy nhiên những bệnh nhân đã thay van hai lá cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh dự phòng trước các phẫu thuật thủ thuật.