......

Bệnh phổi do nấm Aspergillus

Aspergillus là một loại nấm có thể dẫn đến nhiều loại bệnh truyền nhiễm, tùy thuộc vào tình trạng miễn dịch của vật chủ hoặc cấu trúc phổi. Trong đó, bệnh phổi do nấm Aspergillus là một dạng xâm lấn xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nặng, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh.

1. Bệnh phổi do nấm Aspergillus là gì?

Bệnh phổi do nấm Aspergillus là một viêm phổi nặng, do tác nhân là nấm Aspergillus gây ra (thường là Aspergillus fumigatus). Các loài Aspergillus khác nhau luôn có sự hiện diện trên khắp mọi nơi trong môi trường xung quanh, được xem là lành tính nếu có tiếp xúc với phổi có cấu trúc bình thường và khả năng miễn dịch của cơ thể là khỏe mạnh. Nếu một trong hai điều này là bất thường, khả năng loại nấm lành tính này có thể gây ra bệnh lý. Do đó, bệnh có thể gặp trên những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng và người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.

Mặt khác, Aspergillus là một loại nấm có thể cư trú trong các khoang phổi đã có từ trước, đặc biệt là những khoang do bệnh lao phổi để lại. Trong môi trường này, nấm phát triển và vì nó tự do di chuyển trong khoang, thường có hình cầu nên được gọi là aspergilloma.

Tình trạng nhiễm aspergillosis hoại tử mãn tính có thể xâm lấn cục bộ, phổi là một cơ quan đích điển hình với bệnh cảnh viêm phổi. Trong đó, nấm Aspergillus ở phổi chủ yếu gặp trên bệnh nhân có kèm suy giảm miễn dịch.

2. Các yếu tố nguy cơ của nhiễm nấm Aspergillus ở phổi

Đại thực bào phế nang là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại bào tử nấm Aspergillus hít vào. Theo đó, yếu tố nguy cơ chính của bệnh phổi do nấm Aspergillus là suy giảm miễn dịch, bao gồm giảm bạch cầu trung tính, ghép tạng, điều trị kéo dài với corticosteroid liều cao, bệnh ác tính huyết học, liệu pháp gây độc tế bào, AIDS tiến triển và bệnh u hạt mãn tính.

Trong đó, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là giảm bạch cầu, đặc biệt khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối <500 tế bào/mm máu. Nguy cơ của bệnh phổi do nấm Aspergillus có tương quan chặt chẽ với thời gian và mức độ giảm bạch cầu.

Ngoài ra, bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần phải được cung cấp dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa kéo dài, sử dụng nhiều loại kháng sinh và thời gian nằm viện lâu cũng như cần phải chăm sóc tích cực (ICU) sẽ tăng nguy cơ nhiễm nấm, bao gồm cả Aspergillus.

nấm Aspergillus
Bệnh phổi do nấm Aspergillus là một viêm phổi nặng

3. Biểu hiện lâm sàng của bệnh phổi do nấm Aspergillus như thế nào?

Trong hầu hết các trường hợp, Aspergillus đi vào đường hô hấp dưới bằng cách hít phải bào tử lây nhiễm. Bên cạnh đó, ít phổ biến hơn, bệnh phổi nhiễm nấm Aspergillus cũng có thể bắt đầu ở các vị trí khác ngoài phổi, chẳng hạn như xoang, đường tiêu hóa hoặc da (qua ống thông tĩnh mạch, da tiếp xúc lâu với băng dính hoặc vết bỏng).

Các triệu chứng của bệnh phổi do nấm Aspergillus thường không đặc hiệu và giống viêm phế quản phổi. Các triệu chứng bao gồm:

  • Sốt không đáp ứng với kháng sinh.
  • Ho, tiết đờm và khó thở.
  • Bệnh nhân cũng có thể có biểu hiện đau ngực kiểu màng phổi (do xâm lấn mạch máu dẫn đến huyết khối gây nhồi máu phổi nhỏ) và ho ra máu, thường nhẹ, nhưng có thể nặng.
  • Nhiễm Aspergillus cũng có thể lây lan theo đường máu đến các cơ quan khác, bao gồm cả não. Điều này có thể dẫn đến co giật, rối loạn điều khiển cơ vòng, nhồi máu não, xuất huyết nội sọ, viêm màng não và áp xe ngoài màng cứng.

4. Các tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm nấm Aspergillus ở phổi

Việc chẩn đoán bệnh phổi do nấm Aspergillus nhìn chung vẫn còn nhiều thách thức. Trong đó, chẩn đoán sớm nhiễm nấm Aspergillus ở phổi đối với những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nặng là rất khó, cần nghi ngờ những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ của bệnh xâm lấn.

Tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh phổi do nấm Aspergillus là kiểm tra mô bệnh học của nhu mô phổi bằng nội soi lồng ngực hoặc sinh thiết phổi mở với sự hiện diện của các sợi nấm có vách ngăn, cấp tính, phân nhánh xâm nhập vào mô phổi cùng dịch cấy dương tính với Aspergillus từ một vị trí. Song song đó, kiểm tra mô bệnh học cũng cho phép loại trừ các chẩn đoán khác, chẳng hạn như bệnh lý ác tính hoặc bệnh truyền nhiễm không do nấm.

Bên cạnh đó, việc phân lập được Aspergillus trong mẫu đờm cũng có ý nghĩa chẩn đoán dù phụ thuộc nhiều vào tình trạng miễn dịch của vật chủ. Ở những bệnh nhân có khả năng miễn dịch, tình trạng nhiễm nấm lại hầu như không gây biểu hiện lâm sàng.

Chụp X quang ngực ít được sử dụng trong giai đoạn đầu của bệnh vì tỷ lệ các thay đổi không đặc hiệu cao. Các phát hiện thông thường của bệnh phổi do nấm Aspergillus là tổn thương có hình dạng tròn, thâm nhiễm màng phổi, đôi khi gợi ý nhồi máu phổi và ổ hoại tử. Tràn dịch màng phổi là đặc điểm không phổ biến. Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (CT), đặc biệt khi kết hợp với hình ảnh có độ phân giải cao sẽ hữu ích hơn nhiều so với X quang thông thường. Do đó, công cụ này khi thực hiện thường quy sẽ giúp chẩn đoán sớm hơn và cải thiện kết quả người bệnh.

Nội soi phế quản với rửa phế quản - phế nang là phương tiện chẩn đoán xâm lấn thường hữu ích trong việc chẩn đoán nhiễm nấm Aspergillus ở phổi, đặc biệt đối với những bệnh nhân có tổn thương phổi lan tỏa. Ngoài việc lấy mẫu để nhuộm và nuôi cấy nấm, can thiệp có thể hữu ích trong việc phát hiện kháng nguyên Aspergillus ở dịch phế quản cũng như loại trừ các bệnh nhiễm trùng khác. Sinh thiết xuyên phế quản có thể được xem xét ở một số bệnh nhân nghi ngờ.

nấm Aspergillus
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực sẽ giúp chẩn đoán sớm nhiễm nấm Aspergillus ở phổi.

5. Điều trị bệnh phổi nhiễm nấm Aspergillus như thế nào?

Bất chấp sự ra đời của một số thuốc chống nấm mới, việc điều trị bệnh phổi do nấm Aspergillus vẫn còn khó khăn và tỷ lệ tử vong cao. Theo đó, liệu pháp điều trị nên được xem xét ngay khi có nghi ngờ lâm sàng về bệnh phổi do nấm Aspergillus.

Amphotericin B là thành phần điều trị đầu tiên của bệnh phổi do nấm Aspergillus trong nhiều năm, với liều khuyến cáo 1–1,5 mg/kg/ngày. Tuy nhiên, thuốc này có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm độc tính trên thận, rối loạn điện giải và quá mẫn. Để giảm các tác dụng phụ này, các chế phẩm dựa trên lipid mới hơn của amphotericin B (như amphotericin B và amphotericin B phức hợp lipid) đã được giới thiệu nhưng cần dùng liều cao hơn để có hiệu quả kháng nấm tương đương.

Một loại triazole phổ rộng mới là voriconazole, đã được chấp thuận điều trị ban đầu khác của bệnh aspergillosis xâm lấn. Hiện voriconazole được coi là phương pháp điều trị được lựa chọn ở nhiều bệnh nhân nhiễm nấm Aspergillus. Voriconazole có sẵn ở cả dạng tiêm tĩnh mạch và dạng uống. Liều khuyến cáo là 6 mg/kg hai lần mỗi ngày tiêm tĩnh mạch vào ngày đầu tiên, tiếp theo là 4 mg/kg/ngày. Sau 7 ngày, chuyển sang 200mg dùng đường uống hai lần mỗi ngày có thể được xem xét. Voriconazole có tác dụng phụ nhẹ hơn và được dung nạp tốt hơn nhiều so với amphotericin B. Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất là rối loạn thị giác, được mô tả như nhìn mờ, sợ ánh sáng và thay đổi nhận thức màu sắc. Các bất thường về xét nghiệm chức năng gan và phản ứng trên da là những tác dụng phụ ít gặp hơn. Tuy nhiên, voriconazole có liên quan đến một số tương tác thuốc đáng kể, chẳng hạn như với cyclosporine, warfarin, terfenadine, carbamazepine, quinidine, rifampin, statin và sulfonylureas. Bên cạnh đó, một triazole phổ rộng khác, posaconazole, có hiệu quả và an toàn như là liệu pháp cứu cánh ở những bệnh nhân nhiễm nấm Aspergillus kháng với liệu pháp kháng nấm tiêu chuẩn.

Các dẫn xuất echinocandin như caspofungin, micafungin và anidulafungin cũng là những tác nhân hiệu quả trong điều trị bệnh phổi nhiễm nấm Aspergillus kháng với điều trị tiêu chuẩn hoặc nếu bệnh nhân không thể dung nạp các tác nhân đầu tay. Trong khi polyenes và azoles nhắm vào màng tế bào nấm, echinocandin ức chế thành phần β-d-glucan của thành tế bào nấm. Do đó, một liệu pháp kháng nấm kết hợp có thể là chiến lược để điều trị bệnh phổi do nấm Aspergillus kháng trị.

Thời gian điều trị bệnh phổi do nấm Aspergillus nên tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng và X quang của bệnh nhân. Trong hầu hết các trường hợp, việc điều trị thường kéo dài, từ vài tháng đến trên 1 năm. Điều kiện tiên quyết để ngừng điều trị bao gồm mức độ cải thiện lâm sàng và chụp X quang, thanh thải vi sinh cũng như đảo ngược tình trạng ức chế miễn dịch. Điều trị phục hồi ở những bệnh nhân đã đáp ứng nên được xem xét nếu tình trạng ức chế miễn dịch tiếp tục trở lại hoặc nếu bệnh nhân yêu cầu thêm liệu pháp gây độc tế bào và liệu pháp kháng nấm khác.

Về can thiệp ngoại khoa, phẫu thuật cắt bỏ phổi nhìn chung có vai trò hạn chế nhưng sẽ trở nên quan trọng trong các trường hợp nấm Aspergillus ở phổi xâm lấn vào xương, vết thương bỏng, áp xe ngoài màng cứng và bệnh dịch kính. Can thiệp cũng nên được xem xét trong trường hợp ho ra máu ồ ạt, tổn thương phổi gần các mạch máu lớn và màng tim hoặc tổn thương phổi khu trú còn sót lại ở những bệnh nhân đang tiếp tục ức chế miễn dịch cũng như những người dự kiến ​​sẽ điều trị ức chế miễn dịch trong tương lai.

Liệu pháp điều hòa miễn dịch có thể được chỉ định để giảm mức độ ức chế miễn dịch và như một chất hỗ trợ cho liệu pháp kháng nấm để điều trị Aspergillus ở phổi. Thành phần trong liệu pháp bao gồm các yếu tố kích thích nội tại, như yếu tố kích thích bạch cầu hạt (G-CSF) và yếu tố kích thích tế bào hạt-đại thực bào (GM-CSF), interferon-γ, từ đó gián tiếp làm tăng hoạt động thực bào của bạch cầu trung tính chống lại nấm, bao gồm cả Aspergillus.

Cuối cùng, truyền bạch cầu hạt là một liệu pháp hỗ trợ tiềm năng khác, đặc biệt đối với những bệnh nhân bị giảm bạch cầu kéo dài và nhiễm trùng đe dọa tính mạng không thể điều trị bằng liệu pháp thông thường.

Tóm lại, bệnh phổi do nấm Aspergillus là một thuật ngữ chung được sử dụng để chỉ tình trạng viêm phổi do nhiễm một loại nấm thuộc loài Aspergillus. Cơ địa suy giảm miễn dịch là yếu tố nguy cơ mắc phải nấm Aspergillus ở phổi. Vì các triệu chứng không rõ ràng trên các đối tượng nhiều rủi ro, do đó cần tầm soát nấm Aspergillus ở phổi để phát hiện sớm, điều trị tích cực từ đầu nhằm giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc về sau.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 15% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 17/10 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

2.5K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan