Nội soi phế quản trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi

04/12/2019
Phế quản

Tại Việt Nam, ung thư phổi là một trong những căn bệnh ung thư thường gặp, khó khăn trong điều trị và gây tử vong với tỷ lệ cao, chỉ sau ung thư gan. Hiện nay, phương pháp nội soi phế quản đang được áp dụng nhằm mục đích phát hiện và điều trị ung thư phổi kịp thời.

1. Nội soi phế quản là gì?

Nội soi phế quản là một kỹ thuật được sử dụng trong y học, thực hiện bằng cách thông qua một ống soi luồn qua mũi hay miệng của người bệnh vào khí quản hay xuống các đường dẫn khí, thâm nhập vào sâu bên trong phổi để quan sát các tổn thương ở đó. Ngoài ra, nội soi phế quản có thể cho lấy mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm, sinh thiết hay điều trị các tổn thương.

Trước khi chỉ định nội soi phế quản, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra toàn diện xem thể trạng bệnh nhân có phù hợp để thực hiện nội soi hay không. Người bệnh cũng có trách nhiệm thông báo với bác sĩ tình trạng bệnh lý liên quan đến tim mạch, huyết học cũng như tình trạng sử dụng thuốc trong điều trị, do một số loại thuốc có thể làm gia tăng nguy cơ chảy máu trong quá trình nội soi như thuốc chống đông máu, thuốc giảm đau (aspirin, ibuprofen...).

Bệnh nhân trước khi tiến hành nội soi phế quản sẽ được tiêm thuốc làm giảm ho và thư giãn, gây tê mũi họng, đo chỉ số tim mạch và huyết áp. Trong suốt quá trình nội soi, người bệnh sẽ được kết nối với máy theo dõi tình trạng oxy máu và mạch. Chú ý bệnh nhân cần nhịn ăn ít nhất 4 giờ trước khi tiến hành nội soi nhằm tránh tình trạng trào ngược thức ăn vào đường hô hấp.

Sau khi kết thúc nội soi, người bệnh tiếp tục được theo dõi thêm 1 thời gian, sau từ 2-3 giờ nếu uống thử nước không bị sặc thì có thể ăn uống bình thường. Người bệnh có thể ho khạc đờm có máu sau 2-3 ngày kể từ khi tiến hành nội soi và đây là triệu chứng hoàn toàn bình thường.

Nội soi phế quản có thể coi là một thủ thuật chẩn đoán tương đối an toàn, tuy nhiên vẫn có thể xuất hiện 1 số biến chứng nhẹ sau khi thực hiện như: Choáng do phản ứng cường phế vị, tràn khí màng phổi, ho ra máu, sốt sau khi nội soi....

Nội soi phế quản
Nội soi phế quản có thể coi là một thủ thuật chẩn đoán tương đối an toàn

2. Nội soi phế quản trong chẩn đoán ung thư phổi

Ung thư phổi hiện tại là một trong những căn bệnh ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất hiện nay, kể cả ở Việt Nam hay trên thế giới. Đa số bệnh nhân thường phát hiện bệnh ung thư phổi ở giai đoạn cuối và có tiên lượng xấu.

Hiện nay, việc xét nghiệm đàm tìm tế bào ung thư có độ nhạy khá thấp do sai sót trong việc lấy hoặc chuẩn bị mẫu, trong khi nội soi phế quản là thủ thuật hàng đầu hiện nay trong việc chẩn đoán sớm ung thư phổi, hay những tổn thương loạn sản tiền xâm lấn.

Kỹ thuật chẩn đoán sử dụng trong nội soi phế quản

  • Nội soi phế quản ống mềm với ánh sáng trắng hay nội soi phế quản với video: Hỗ trợ quan sát rõ đường thở trung tâm, tuy nhiên độ nhạy thấp.
  • Nội soi phát huỳnh quang (Autofluorescence bronchoscopy-AFB): Hỗ trợ phát hiện tổn thương nội phế quản tiền xâm lấn. Tuy nhiên, gần đây có nghiên cứu chỉ ra những vùng phát huỳnh quang bất thường nhưng mô học lành tính, xuất hiện biến đổi nhiễm sắc thể là dấu hiệu nhận biết gia tăng chỉ số ung thư.
  • Nội soi PQ độ phóng đại cao (high-magnification bronchoscopy): Tiến hành nội soi PQ kết hợp với video cho phép phóng đại phế quản lên 100 - 110 lần, qua đó có thể quan sát rõ hơn hệ vi mạch niêm mạc phế quản, hỗ trợ phát hiện loạn sản hay ung thư giai đoạn sớm.
  • Nội soi với hình ảnh băng tần hẹp (Narrow band imaging-NBI): Hỗ trợ quan sát rõ hơn mạng mạch máu dưới niêm mạc thay vì sử dụng băng tần rộng trong video chuẩn. Kỹ thuật này có khả năng phát hiện sự gia tăng sinh mạch, sự vặn xoắn bất thường của mạng lưới mạch máu trong quá trình sản sinh ung thư.
  • Chụp cắt lớp (OCT): Cho ra hình ảnh với độ phân giải cao liên quan tới cấu trúc bên dưới bề mặt như siêu âm nhưng dùng ánh sáng gần với tia hồng ngoại thay thế cho việc sử dụng sóng siêu âm. OCT có thể thu nhận hình ảnh tế bào và vùng ngoại bào nhờ việc phân tích sự tán xạ với độ phân giải trong không gian rộng từ 3–15 m và sâu 2 mm, qua đó đưa ra hình ảnh gần như sát với mô học trong thành phế quản. Ngoài ra, OCT còn hỗ trợ phân biệt loạn sản với dị sản, tăng sản với mô bình thường, ung thư phổi với ung thư xâm lấn. Mức độ nặng của giai đoạn mô bệnh học tỷ lệ thuận với mức độ tăng dần của độ dày biểu mô. Trường hợp phát hiện nhân tế bào đậm hơn và ít chấm sáng hơn, màng đáy bị gián đoạn hay mất là dấu hiệu của ung thư xâm lấn.
Nội soi phế quản
Nộii soi phế quản có thể cho lấy mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm

3. Nội soi phế quản trong điều trị ung thư phổi

Hiện nay, phẫu thuật vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng trong điều trị ung thư phổi với tỷ lệ sống 80-90% trong 5 năm. Tuy vậy nhược điểm của nó là cắt bỏ mô phổi bình thường trong 1 số trường hợp.

Nội soi phế quản là kỹ thuật xâm lấn điều trị ung thư phổi ít ảnh hưởng tới sức khỏe, chi phí thấp hơn so với giải phẫu với kết quả tương tự.

Một số phương pháp điều trị ung thư phổi thông qua nội soi phế quản

  • Đốt điện nội phế quản: Khi dòng điện được đưa vào mô đích bằng những que hay thòng lọng, nhiệt được tạo nên.
  • Argon Plasma Coagulation - APC: Sản sinh ra dòng plasma, qua đó truyền năng lượng đồng nhất đến và phá hủy khối u. APC hiệu quả với mô có kích thước vừa và nhỏ, nhưng kém hiệu quả với khối u to.
  • Liệu pháp áp lạnh (Cryotherapy): Gây chết tế bào do quá trình đông lặp đi lặp lại một cách nhanh chóng và tan chậm. Phương pháp này cho hiệu quả tốt với mô chứa nước, kém hiệu quả với mô ít mạch máu như sụn và mô liên kết không hiệu quả.
  • Laser: Sử dụng tia laser thích hợp cho điều trị qua nội soi phế quản do năng lượng cao. Hiệu quả của laser phụ thuộc vào độ dài sóng.
  • Liệu pháp quang động PDT (photodynamic therapy): Triệt tiêu tế bào ung thư phổi thông qua tương tác giữa máy nhạy cảm ánh sáng chọn lọc u (tumor-selective photosensitizers) và ánh sáng laser. Sự kết hợp giữa các phân tử nhạy sáng với ánh sáng của các độ dài sóng đặc biệt và oxy tổ chức tạo ra những thể oxy hoạt hóa có khả năng gây hoại tử tế bào ung thư.
  • Xạ trị trong (Brachytherapy): Tiến hành bằng cách đặt nguồn phóng xạ tại chỗ khối u. Ưu điểm của phương pháp này là tốc độ cao, qua đó tránh tổn thương mô lành hơn xạ trị ngoài. Trong trường hợp không có di căn hạch, tiến hành xạ trong với bệnh nhân ung thư phổi có thể cho kết quả tích cực.

Việc lựa chọn kỹ thuật chẩn đoán và điều trị ung thư phổi thông qua nội soi phế quản phụ thuộc vào đặc tính cơ thể, tình trạng bệnh của từng bệnh nhân, thiết bị y tế của đơn vị điều trị. Bác sĩ điều trị cần phải kiểm tra cẩn thận, tùy theo điều kiện để áp dụng phương pháp tốt nhất trong chẩn đoán và điều trị.

Kỹ thuật nội soi phế quản ống mềm tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec được thực hiện trên các phương tiện máy móc hiện đại, không làm cho bệnh nhân khó chịu khi tiến hành nội soi. Trước khi tiến hành nội soi phế quản, bệnh sẽ được gây mê và kiểm soát đường thở kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn và hạn chế tối đa sự kích thích hay khó chịu và sau đó kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo không có biến chứng cho bệnh nhân.

Để được tư vấn và đăng ký khám Nội soi phế quản ống mềm gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ TẠI ĐÂY hoặc liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc.

XEM THÊM: