......

Thuốc điều trị COVID-19 ảnh hưởng ra sao đến thai nhi?

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Huỳnh Vưu Khánh Linh - Bác sĩ Sản phụ khoa - Khoa Sản phụ khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc.

Bên cạnh vắc xin thì thuốc điều trị COVID-19 Molnupiravir là một trong những biện pháp giúp giảm đáng kể khả năng chuyển biến nặng và tử vong. Tuy nhiên, Molnupiravir có phải là thuốc điều trị COVID-19 dành cho bà bầu không?

1. Đặc điểm Covid 19 ở phụ nữ mang thai

Trước khi tìm hiểu thuốc điều trị COVID-19 dành cho bà bầu có bao gồm Molnipiravir hay không, chúng ta cần tìm hiểu về đặc điểm bệnh lý khi phụ nữ mang thai nhiễm virus SARS-CoV-2. Phụ nữ mang thai là đối tượng nguy cơ cao có khả năng diễn biến nặng khi nhiễm virus SARS-CoV-2.

Tuy nhiên, hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn hiện tại được xem là đã có sự chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị và thuốc điều trị COVID-19, kết hợp với việc đa số bà bầu hiện đã tiêm đủ liều vắc xin nên nguy cơ diễn biến nặng đã giảm đi đáng kể.

Khi mang thai, cơ thể nuôi thêm một cơ thể nhỏ trong buồng tử cung, khiến bụng to hơn và đẩy cơ hoành lên cao. Điều này dẫn đến dung tích 2 lá phổi giảm xuống, hoạt động hô hấp phần nào bị cản trở và khiến khả năng hô hấp của bà bầu bị giới hạn hơn người bình thường.

Bên cạnh đó, cơ thể bà bầu xảy ra hiện tượng giữ nước sinh lý, gây nên tình trạng phù niêm mạc và tăng nguy cơ tổn thương đường hô hấp. Kết hợp tất cả yếu tố trên làm cho bà bầu COVID-19 có nguy cơ diễn tiến nặng rất cao, đòi hỏi quá trình theo dõi chặt chẽ, chủ động các triệu chứng lâm sàng của mẹ cũng như tình trạng thai nhi... Đồng thời cần chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp xử trí, các thuốc điều trị COVID-19 dành cho bà bầu phù hợp để đảm bảo mục đích cao nhất là sự an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

Cho đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu tin cậy trên toàn thế giới cho thấy virus SARS-CoV-2 gây COVID-19 chỉ lây truyền qua đường hô hấp (giọt bắn hay tiếp xúc bề mặt) chứ không lây qua máu hay truyền từ mẹ sang thai nhi. Do đó, thai nhi trong bụng mẹ có thể tương đối an toàn, hoàn toàn không bị ảnh hưởng khi bà bầu mắc COVID-19.

Vấn đề nóng hổi hiện nay là hội chứng hậu Covid-19, tuy nhiên theo các chuyên gia phụ nữ mang thai và chuẩn bị sinh đa số là người trẻ nên các tổn thương ở phổi không quá nặng nề, cơ thể có khả năng hồi phục tốt sau mắc bệnh. Tuy nhiên, các yếu tố trên cũng không đảm bảo chắc chắn là bà bầu sẽ không gặp hội chứng hậu COVID-19.

2. Bà bầu có được uống thuốc điều trị COVID-19 Molnupiravir?

Thuốc Molnupiravir có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus SARS-COV2 trong cơ thể, giảm nguy cơ tiến triển dẫn đến các biến chứng nặng do virus SARS-COV2 gây ra như nhập viện và tử vong. Thuốc Molnupiravir được sử dụng cho bệnh nhân COVID-19 người lớn từ 18 tuổi trở lên mức độ nhẹ đến trung bình và có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng.

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Hoa Kỳ (FDA) trước đó đã công bố báo cáo sơ bộ khẳng định thuốc Molnupiravir ang lại hiệu quả trong quá trình điều trị bệnh Covid 19. Tuy nhiên khuyến cáo này còn khẳng định Molnupiravir không phải là một thuốc điều trị COVID-19 dành cho bà bầu. FDA không khuyến cáo sử dụng thuốc Molnupiravircho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em dưới 18 tuổi do quan ngại nguy cơ độc tính trên thai nhi, trên xương, sụn của thuốc.

Báo cáo sơ bộ của FDA cho thấy Molnupiravir có hiệu quả đối với các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 mức độ từ nhẹ đến trung bình hoặc những bệnh nhân có nguy cơ phải nhập viện.

Thuốc điều trị COVID-19 Molnupiravir cho đến nay vẫn chưa được thử nghiệm lâm sàng trên đối tượng phụ nữ đang trong thai kỳ nên ảnh hưởng ra sao đến thai nhi vẫn chưa được biết rõ.

Tuy nhiên các thử nghiệm thuốc thực hiện trên động vật như chuột và thỏ mang thai sử dụng Molnupiravir cho thấy những tác động không tốt của thuốc đến thai nhi như thai nhẹ cân và nghiêm trọng hơn là gây dị tật, quái thai. Cũng theo FDA, việc những lợi ích tiềm năng của thuốc điều trị COVID-19 Molnupiravir nhỏ hơn những rủi ro mà thuốc mang lại nên những thai phụ mắc COVID-19 KHÔNG được sử dụng loại thuốc được xem là đặc trị này.

3. Molnupiravir là một bước tiến lớn trong cuộc chiến chống lại đại dịch

Các nhà khoa học cho rằng việc FDA cấp phép cho Molnupiravir đã tạo ra một bước tiến lớn trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19. Hiện nay Việt Nam đã tự chủ sản xuất Molnupiravir, góp phần giảm giá thành và tạo điều kiện thuận lợi cho người mắc bệnh điều trị hiệu quả (khi đúng chỉ định của bác sĩ).

Hãng dược phẩm Merck đã công bốvề các thử nghiệm lâm sàng đối với Molnupiravir cho thấy hiệu quả của thuốc. Một nghiên cứu thực hiện trên 1.400 bệnh nhân cho thấy hiệu quả của thuốc ở mức 30% trong ngăn ngừa nguy cơ tử vong cũng như khả năng phải nhập viện của bệnh nhân COVID-19.

Theo Merck, hãng đã tiến hành thử nghiệm thuốc điều trị COVID-19 Molnipiravir trên những bệnh nhân mắc COVID-19 ở thể trung bình kèm theo ít nhất một yếu tố nguy cơ. Các trường hợp nghiên cứu được cho sử dụng Molnupiravir trong thời gian 5 ngày từ khi khởi phát các triệu chứng lần đầu. Kết quả cho thấy, Molnupiravir có khả năng giảm khoảng 50% nguy cơ bệnh trở nặng. Đồng thời, không ghi nhận trường hợp nào tử vong trong vòng 29 ngày ở người bệnh có uống Molnupiravir, trong khi những người dùng giả dược có đến 8 ca không qua khỏi.

Hiện nay, tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec triển khai các gói khám hậu COVID-19 giúp đánh giá, chẩn đoán, điều trị và dự phòng các yếu tố nguy cơ của biến chứng hậu COVID-19. Cụ thể:

  • Đánh giá chức năng hệ hô hấp sau nhiễm COVID-19: Dành cho bệnh nhân có khó thở, ho, tức ngực kéo dài; bệnh nhân bị hạn chế vận động thể lực, hụt hơi.
  • Đánh giá chuyên sâu chức năng hệ hô hấp sau nhiễm COVID-19: Dành cho các bệnh nhân đã được chẩn đoán tổn thương phổi trong giai đoạn cấp tính như tổn thương phổi kính mờ, viêm phổi, xơ phổi
  • Sàng lọc rối loạn tâm thần kinh sau nhiễm COVID-19: Dành cho bệnh nhân có các triệu chứng kéo dài như mất ngủ, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu; rối loạn thần kinh thực vật; suy giảm nhận thức (brain fog); xuất hiện các rối loạn tâm thần (hoang tưởng, sang chấn tâm lý, trầm cảm, lo âu)
  • Đánh giá rối loạn liên quan đáp ứng viêm hệ thống sau miễn nhiễm Covid: Dành cho các bệnh nhân sốt kéo dài (> 2 tuần), mệt mỏi không rõ nguyên nhân; phát ban trên da (ban dạng mày đay, hồng ban, ban xuất huyết); tổn thương nhiều cơ quan như tăng men gan, tổn thương thận, tiêu hóa; rối loạn các dấu ấn viêm; rối loạn huyết học (thiếu máu, tan máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu)
  • Gói khám dành cho khách hàng trên 18 tuổi
  • Gói đánh giá chuyên sâu chức năng hệ hô hấp sau nhiễm COVID-19 chỉ có tại Vinmec Times City.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn và đặt tư vấn từ xa qua video với bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi.

6.5K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan