Nhiễm nấm Candida ở phổi: Chẩn đoán và điều trị

31/03/2020
Nấm Candida

Bài viết được viết bởi các bác sĩ vi sinh - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Candida albicans là nấm men thường gây nhiễm trùng trên nhiều bộ phận của cơ thể con người, trong đó có phổi. Theo đó, nấm Candida gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho phổi nên người bệnh cần được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

1. Candida albican là gì?

Candida albicans là nấm men thường gây nhiễm trùng nhất trong họ Candida Đây là những loại nấm rất phổ biến, sống ở khắp mọi nơi, trên cơ thể người nấm candida thường xuất hiện ở da, vùng miệng, đường tiêu hóa và vùng sinh dục. Thông thường, nấm candida sẽ sống cân bằng với các vi sinh vật khác trên cơ thể mà không gây tác hại gì, có khoảng 15% đến 30% người lành mang Candida trong miệng họng và 15% ở trong phế quản. Tuy nhiên, khi gặp các điều kiện thuận lợi, nấm candida sẽ có cơ hội phát triển mạnh và gây bệnh ở nhiều bộ phận khác của cơ thể.

Viêm âm đạo do nấm Candida
Candida albican gây bệnh ở nhiều bộ phận trên cơ thể

2. Vì sao nấm Candida nhiễm được vào phổi?

Sự phân lập của các loài Candida từ đường hô hấp là thường gặp ở những bệnh nhân đang ở ICU và được đặt nội khí quản hoặc phẫu thuật mở khí quản mạn tính. Điều này gần như luôn phản ánh sự xâm lấn của đường thở và không bị nhiễm trùng. Viêm phổi do Candidaáp xe phổi rất hiếm gặp, chỉ số ít trường hợp sau khi hút dịch hầu họng có viêm phổi nguyên phát hoặc áp xe đã được ghi nhận.

Viêm phổi do Candida nói chung chỉ giới hạn ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng, người bị nhiễm trùng sau khi lan từ máu đến phổi. CT scan ngực thường cho thấy nhiều nốt sần phổi.

Bệnh nấm phổi Candida albicans: Candida albicans là một trong các loài nấm candida hay gây bệnh cho người khi cơ thể suy giảm miễn dịch do các nguyên nhân hoặc khí dung kháng sinh kéo dài. Viêm phổi do nấm chiếm một phần nhỏ trong viêm phổi và Candida là tác nhân thường gặp nhất gây nhiễm nấm xâm lấn, chiếm tỉ lệ 70-90%. Nấm có thể thường trú trong cơ thể mà không gây bệnh hoặc có thể gây bệnh thật sự, đặc biệt trên các cơ địa suy giảm miễn dịch.

Nấm ở phế quản: Thường gặp ở trẻ nhỏ do nấm ở họng, miệng bị hít xuống phế quản.

3. Triệu chứng lâm sàng khi bị nhiễm nấm Candida

Các triệu chứng lâm sàng sau khi bị nhiễm nấm Candida như sau:

  • Sốt, ho (thường không đờm)
  • Đau ngực kiểu màng phổi hoặc cảm thấy không thoải mái
  • Khó thở tiến triển dẫn đến suy hô hấp
  • Các triệu chứng tắc nghẽn đường hô hấp hạch trung thất chèn ép trong các bệnh nấm dịch tễ.
  • Đông đặc phổi - Cọ màng phổi.

Nấm khu trú ở phổi: Có thể cục bộ hoặc lan tỏa, bệnh diễn biến cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính: Lâm sàng của thể cấp tính giống viêm phổi, sốt cao 39 độ C, ho từng cơn, đờm có các hạt xám, vàng, dính lại với nhau thành cục, bệnh nhân thường ho ra máu và có thể suy hô hấp.

Hình ảnh Xquang phổi: Hình ảnh thâm nhiễm giống viêm phổi, có thể một bên phổi (thể cục bộ) hoặc ở cả hai bên phổi giống hình ảnh phế quản - phế viêm

Nấm ở phế quản: Thường gặp ở trẻ nhỏ do nấm ở họng, miệng bị hít xuống phế quản. Biểu hiện lâm sàng là bệnh nhân có đau ngực, khạc đờm lẫn máu, đôi khi khó thở rít như hen phế quản do dị ứng với nấm. Soi phế quản nhìn thấy mảng trắng rải rác, màng giả, niêm mạc phế quản bị viêm đỏ.

Viêm phế quản
Nấm Candida có thể phát triển ở phế quản

4. Chẩn đoán nhiễm nấm Candida bằng xét nghiệm gì?

4.1 Công thức máu

  • Bạch cầu (BC): có thể tăng ở người khỏe mạnh nhiễm nấm dịch tễ
  • Eosinophilia: có thể tăng, đạt khả năng nhiễm nấm cơ hội với Candida or Aspergillus cao hơn

4.2. Soi nhuộm Gram đàm

  • Bệnh phẩm cần vận chuyển, xử lý và cấy đúng cách. Phát hiện sợi nấm hay nấm men.

4.3. Nuôi cấy-phân lập – định danh các loài Candida

Từ các mẫu hô hấp ở một bệnh nhân bị ức chế miễn dịch nghiêm trọng, phân lập sinh vật từ bệnh phẩm rửa phế quản phế quản (BAL) và các mẫu đường hô hấp. Cấy máu xác định chủng Candida species/ B dermatitidis khi bệnh nhân nhiễm nấm lan tỏa.

4.4. Chẩn đoán xác định (chắc chắn)

Dựa vào xét nghiệm mô bệnh học của bệnh xâm lấn. Bởi vậy sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành phế quản là phương pháp có giá trị chẩn đoán. Nội soi phế quản ống mềm: Rửa PQPN nhuộm gram, cấy nấm và sinh thiết xuyên phế quản

4.5. Xquang phổi

4.6. Soi phế quản

5. Điều trị nhiễm nấm Candida ở phổi

Nhiễm nấm Candida là một bệnh nhiễm trùng nấm men do các nấm họ Candida, mà phần lớn là do nấm Candida albicans gây nên.

5.1. Điều trị khi phân lập của các loài Candida từ đường hô hấp

Khuyến nghị

Sự phát triển của Candida từ dịch tiết đường hô hấp thường là quá phát và hiếm khi cần điều trị bằng liệu pháp chống nấm (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng vừa).

Tóm tắt bằng chứng

Mặc dù chẩn đoán viêm phổi do Candida được hỗ trợ bằng cách phân lập sinh vật từ bệnh phẩm rửa phế quản phế quản (BAL), một chẩn đoán chắc chắn đòi hỏi bằng chứng mô bệnh học của bệnh xâm lấn.

Nhiều triển vọng và hồi cứu nghiên cứu khám nghiệm tử thi luôn chứng minh giá trị dự đoán kém của sự phát triển của Candida từ dịch tiết đường hô hấp, bao gồm cả dịch BAL.

Trong một nghiên cứu tiền cứu, không ai trong số 77 bệnh nhân đã chết trong một ICU và có bằng chứng lâm sàng và X quang về viêm phổi và nuôi cấy dương tính với Candida từ BAL hoặc đờm chứng minh bằng chứng của Candida viêm phổi khi khám nghiệm tử thi. Vì sự hiếm có của Candida viêm phổi, phát hiện cực kỳ phổ biến của Candida trong dịch tiết đường hô hấp và thiếu tính đặc hiệu của phát hiện này, quyết định bắt đầu điều trị bằng thuốc chống nấm không nên được đưa ra trên cơ sở kết quả nuôi cấy đường hô hấp đơn thuần.

Những quan sát gần đây cho thấy sự xâm lấn đường thở với các loài Candida có liên quan đến sự phát triển của vi khuẩn và viêm phổi. Candida xâm lấn khí đạo cũng liên quan đến kết quả lâm sàng tồi tệ hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn trong các nghiên cứu này. Tuy nhiên, nó không rõ ràng nếu phân lập Candida đường thở có mối quan hệ nhân quả với kết quả kém hơn hoặc chỉ đơn giản là một dấu hiệu của mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Xquang phổi
Chụp X-quang giúp chẩn đoán nấm Candida ở phổi

5.2. Điều trị cho bệnh nấm Candida hầu họng?

Khuyến nghị

Đối với bệnh nhẹ: clotrimazole, 10 mg ngậm 5 lần hàng ngày, HOẶC miconazole viên nén 50 mg bôi lên bề mặt niêm mạc trên răng nanh một lần mỗi ngày trong 7-14 ngày, được khuyến nghị (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng cao).

Các lựa chọn thay thế cho bệnh nhẹ bao gồm huyền dịch nystatin (100 000 U/ mL) 4 -6 mL/ 4 lần/ngày, HOẶC 1-2 ống nystatin (200 000 U mỗi lần) x 4 lần/ ngày, trong 7 -14 ngày (khuyến nghị mạnh;bằng chứng chất lượng vừa).

Đối với bệnh từ trung bình đến nặng, fluconazole đường uống, 100-200 mg hàng ngày, trong 7-14 ngày được khuyến nghị (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng cao).

Đối với bệnh lý không dung nạp fluconazole, dung dịch itraconazole, 200 mg/ ngày một lần HOẶC posaconazole dung dịch, 400 mg x 2 lần/ ngày trong 3 ngày sau đó 400 mg/ ngày, trong tối đa 28 ngày, được khuyến nghị (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng vừa).

Các lựa chọn thay thế cho bệnh lý không dung nạp fluconazole bao gồm voriconazole, 200 mg x 2lần/ ngày, HOẶC AmB deoxycholate hỗn dịch uống, 100 mg/ mL x 4 lần/ ngày (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng vừa).

Echinocandin tiêm tĩnh mạch (caspofungin: khởi liều 70 mg, sau đó 50 mg/ ngày; micafungin: 100 mg/ ngày; hoặc anidulafungin: khởi liều 200 mg, sau đó 100 mg/ ngày) HOẶC AmB deoxycholate tiêm tĩnh mạch, 0,3 mg/ kg/ ngày, là lựa chọn thay thế cho bệnh lý không dung nạp (khuyến nghị yếu; bằng chứng chất lượng vừa).

Điều trị ức chế mạn tính thường không cần thiết. Nếu cần thiết cho bệnh nhân bị nhiễm trùng tái phát, fluconazole, 100 mg x 3 lần/ tuần, được khuyến nghị (khuyến nghị mạnh; bằng chứng cao).

Đối với bệnh nhân nhiễm HIV, điều trị bằng thuốc kháng virus là khuyến cáo mạnh để giảm tỷ lệ tái phát nhiễm trùng (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng cao).

Đối với nhiễm nấm Candida liên quan đến răng giả, nên khử trùng răng giả, ngoài liệu pháp chống nấm, được khuyến cáo (khuyến nghị mạnh; bằng chứng chất lượng vừa phải).

Tóm tắt bằng chứng

Nhiễm nấm Candida hầu họng và thực quản xảy ra phối hợp nhiễm HIV, tiểu đường, bệnh bạch cầu và các khối u ác tính khác, sử dụng steroid, xạ trị, liệu pháp kháng khuẩn và sử dụng răng giả, và sự xuất hiện của chúng được công nhận là một chỉ số về rối loạn chức năng miễn dịch. Ở những bệnh nhân nhiễm HIV, Bệnh nấm Candida hầu họng thường được quan sát thấy ở bệnh nhân với số lượng CD4 <200 tế bào/ mL. Sự ra đời của liệu pháp kháng virus hiệu quả đã dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng trong tỷ lệ nhiễm nấm Candida hầu họng và giảm rõ rệt trong các trường hợp mắc bệnh khúc xạ.

Kháng fluconazole hoặc multiazole chủ yếu là hậu quả của việc tiếp xúc lâu dài và lặp đi lặp lại với fluconazole hoặc các azole khác. Đặc biệt ở bệnh nhân với ức chế miễn dịch tiến triển và số lượng CD4 thấp, tình trạng kháng C. albicans đã được mô tả, cũng như đã xuất hiện dần dần của các loài Candida non albicans, đặc biệt là C. glabrata, như một nguyên nhân của nấm Candida niêm mạc không dung nạp.

Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm Candida hầu họng là do C. albicans, hoặc đơn độc hoặc nhiễm trùng hỗn hợp. Nhiễm trùng triệu chứng do C. glabrata, C. dubliniensisC. krusei đơn độc đã được mô tả.

Nhiều nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên về bệnh nấm Candida hầu họng đã được thực hiện liên quan đến bệnh nhân AIDS và bệnh nhân ung thư. Phần lớn bệnh nhân sẽ đáp ứng ban đầu với điều trị tại chỗ. Ở những bệnh nhân nhiễm HIV, tái phát triệu chứng sớm hơn và thường xuyên hơn với điều trị tại chỗ với fluconazole. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên đa trung tâm ở những người nhiễm HIV, viên ngậm 50 mg chất nhầy miconazole bôi một lần mỗi ngày lên bề mặt niêm mạc dưới lưỡi có hiệu quả tương đương với 10 mg clotrimazole troches sử dụng 5 lần/ ngày. Fluconazole và dung dịch itraconazole vượt trội hơn viên nang ketoconazole và itraconazole..

Dung dịch posaconazole cũng hiệu quả như fluconazole ở bệnh nhân AIDS. Posaconazole, viên nén giải phóng chậm 100 mg, 300 mg với liều duy nhất, được FDA phê chuẩn để điều trị dự phòng nhiễm nấm ở bệnh nhân có nguy cơ cao. Các viên thuốc cung cấp sinh khả dụng ổn định (khoảng 55%), dùng một lần mỗi ngày và ít tiện lợi hơn yêu cầu thực phẩm nghiêm ngặt để hấp thụ. Công thức này chưa

được đánh giá đầy đủ cho bệnh nấm Candida niêm mạc, nhưng với nghiên cứu thêm, có thể thay thế dung dịch đường miệng cho mục đích này.

Nhiễm trùng tái phát thường xảy ra ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch kéo dài, đặc biệt là những người bị AIDS và số lượng tế bào CD4 thấp (<50 tế bào/ μL). Điều trị lâu dài bằng thuốc ức chế với fluconazole đã được chứng minh là có hiệu quả trong phòng ngừa nhiễm nấm Candida hầu họng. Trong một nghiên cứu đa trung tâm lớn trên bệnh nhân nhiễm HIV, điều trị ức chế dài hạn với fluconazole được so sánh với việc sử dụng fluconazole định kỳ để đáp ứng với triệu chứng dịch bệnh.

Điều trị ức chế liên tục làm tỷ lệ giảm tái phát hiệu quả hơn so với điều trị không liên tục, nhưng có liên quan đến tăng kháng thuốc trong ống nghiệm. Tần suất của tái phát bệnh giống nhau cho cả hai nhóm.

AmB uống deoxycholate, dung dịch nystatin và viên nang itraconazole kém hiệu quả hơn fluconazole trong việc ngăn ngừa nấm candida hầu họng. Nhiễm trùng không dung nạp fluconazole nên được điều trị ban đầu với dung dịch itraconazole; từ 64% đến 80% bệnh nhân sẽ đáp ứng với liệu pháp này. Huyền dịch posaconazole có hiệu quả ở khoảng 75% bệnh nhân mắc bệnh Candida hầu họng hoặc thực quản tái phát và voriconazole cũng có hiệu quả đối với nhiễm trùng không dung nạp fluconazole. Caspofungin tiêm tĩnh mạch, micafungin và anidulafungin đã cho thấy sự thay thế hiệu quả cho các tác nhân không dung nạp azole

AmB deoxycholate đặt tại chỗ hoặc tiêm tĩnh mạch cũng có hiệu quả ở một số bệnh nhân; tuy nhiên, dược sĩ phải điều chế theo công thức uống. Tăng miễn dịch với yếu tố kích thích bạch cầu hạt, đại thực bào hoặc interferon, đôi khi được sử dụng trong quản lý Candida miệng và thực quản không dung nạp thuốc.

Giảm tỷ lệ mang Candida ở miệng và giảm tần suất nhiễm nấm Candida hầu họng có triệu chứng ở những bệnh nhân nhiễm HIV khi dùng thuốc kháng virus hiệu quả. Vì vậy, nên sử dụng liệu pháp kháng virus bất cứ khi nào có thể đối với bệnh nhân nhiễm HIV bị nhiễm nấm Candida hầu họng hoặc thực quản.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là địa chỉ thăm khám, phòng ngừa và điều trị nhiều bệnh lý về đường hô hấp, trong đó có bệnh viêm phổi. Với đội ngũ y bác sĩ giỏi, có chuyên môn và hệ thống trang thiết bị hiện đại, dịch vụ y tế hoàn hảo sẽ đưa ra quy trình thăm khám, điều trị và hạn chế tối đa biến chứng do bệnh viêm phổi gây ra.

Khách hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ trợ.