Chẩn đoán đau thắt ngực bằng chụp CT tưới máu cơ tim

29/07/2019
Chẩn đoán đau thắt ngực

Cơn đau thắt ngực xuất hiện do lưu lượng máu đến cơ tim giảm, máu lại mang oxy cần thiết cho các hoạt động của tim. Chụp CT tưới máu cơ tim là kỹ thuật hiện đại nhằm phát hiện nguyên nhân gây thiếu oxy, thiếu máu cho tim gây ra đau thắt ngực.

1. Đau thắt ngực

Đau thắt ngực là tình trạng đau ngực gây ra bởi động mạch vành bị hẹp vì tắc nghẽn hoặc co thắt. Lượng máu để nuôi tim không đủ, dẫn đến tình trạng tim bị thiếu oxy để bơm máu. Đau thắt ngực thường do bệnh xơ vữa các động mạch vành gây ra. Nguyên nhân thông thường nhất là:

  • Bệnh mạch vành: động mạch vành ở tim bị thu hẹp do các mảng tích tụ từ cholesterol, gây ra xơ vữa động mạch, làm cho máu chảy qua chúng trở nên khó khăn hơn.
  • Loạn nhịp tim.
  • Thiếu máu gây ra thiếu hụt hồng huyết cầu để cung cấp oxy.
  • Co thắt động mạch vành dẫn đến giảm lưu lượng máu.

2. Chẩn đoán đau thắt ngực


Những điểm cơ bản trong chẩn đoán:

  • Đau ngực vùng trước tim, thường khởi phát bởi stress hoặc gắng sức. Nghỉ ngơi hoặc các thuốc nhóm nitrat sẽ làm giảm nhanh chóng cơn đau thắt ngực.
Chẩn đoán đau thắt ngực
Đau ngực vùng trước tim, thường khởi phát bởi stress hoặc gắng sức

  • Các dấu hiệu thiếu máu xuất hiện khi điện tim hoặc chụp nhấp nháy trong cơn đau hoặc khi làm nghiệm pháp gắng sức.
  • Chụp động mạch vành cho thấy sự hẹp tắc rõ rệt các động mạch vành chính.

Việc chẩn đoán đau thắt ngực chủ yếu dựa vào tiền sử, đặc biệt là những dữ kiện sau.

  • Những hoàn cảnh làm khởi phát và làm giãn nhẹ đau thắt ngực: Đau thắt ngực hầu như đều xảy ra trong khi hoạt động, và giảm đi khi nghỉ ngơi. Gắng sức làm căng các cơ lồng ngực hoặc cơ chi trên sẽ làm khởi phát cơn đau.
  • Cảm giác của bệnh nhân: Bệnh nhân thường không quy cho đau thắt ngực như là "đau" mà như là cảm giác thắt chặt lại, ép lại, nóng bỏng, siết chặt, nghẹt thở, đau nhức, như nổ tung lồng ngực, ngột ngạt, cảm giác khó tiêu hoặc bứt rứt khó chịu.
  • Vị trí đau: Trong 80 - 90% các trường hợp thấy đau tức ở phía sau hoặc hơi lệch sang bên trái xương ức.
  • Thời gian kéo dài cơn đau: Cơn đau thắt ngực thường ngắn và có thể hết hoàn toàn mà không để lại cảm giác khó chịu nào.
  • Tiền sử bệnh lý khác: tim mạch, đái tháo đường,...

3. Các phương pháp chẩn đoán đau thắt ngực

3.1 Điện tâm đồ

Điện tâm đồ lúc nghỉ ngơi là bình thường trong một phần tư các bệnh nhân có cơn đau thắt ngực. Trong số còn lại, những bất thường gồm: nhồi máu cơ tim cũ, những thay đổi không đặc hiệu của ST - T; rối loạn dẫn truyền nhĩ - thất hoặc trong thất và những thay đổi của dầy thất trái.

Trong cơn đau thắt ngực những thay đổi điện tâm đồ đặc trưng là đoạn ST chênh xuống đi ngang hoặc dốc xuống, và nó có thể đảo ngược sau khi thiếu máu biến mất. Sóng T dẹt hoặc đảo ngược cũng có thể xảy ra. Ít gặp hơn, có thể thấy đoạn ST chênh lên; dấu hiệu này chứng tỏ thiếu máu (xuyên thành) nặng và thường xảy ra do co thắt mạch vành.

3.2 Điện tâm đồ gắng sức

Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp thăm dò có giá trị nhất trong đánh giá bệnh nhân bị đau thắt ngực. Thiếu máu không có trong lúc nghỉ ngơi sẽ được phát hiện bằng sự khởi phát đau ngực điển hình hoặc sự chênh xuống của đoạn ST (hoặc hiếm hơn là chênh lên).

3.3 Nhấp nháy đồ tưới máu cơ tim

Thăm dò này cho thấy hình ảnh thu nhận chất phóng xạ hạt nhân theo tỷ lệ dòng máu cung cấp ở thời điểm trên. Những vùng giảm thu nhận chất phóng xạ chứng tỏ có sự giảm tưới máu tương đối (so với các vùng cơ tim khác). Ở những phòng xét nghiệm có kinh nghiệm, nhấp nháy đồ thallium 201 dương tính ở 75 - 90% các bệnh nhân có tổn thương về mặt giải phẫu động mạch vành rõ rệt và chỉ vào khoảng 20% những người này là không có tổn thương. Kết quả dương tính giả ở phụ nữ có thể do sự đào thải chất phóng xạ qua tổ chức tuyến sữa.

3.4 Chụp buồng tim bằng phóng xạ

Thủ thuật này làm hiện hình tâm thất trái và đo phân số tống máu và di động thành thất trái.

Trong bệnh mạch vành, những bất thường lúc nghỉ ngơi tương ứng với nhồi máu, còn bất thường xảy ra khi gắng sức thường chứng tỏ thiếu máu do gắng sức gây ra. Những bệnh nhân bị bệnh mạch vành có thể thấy giảm phân số tống máu tăng khi gắng sức.

3.5 Siêu âm

Siêu âm có thể cho thấy hình ảnh của thất trái, những bất thường này có thể chứng tỏ thiếu máu cơ tim cục bộ hoặc nhồi máu trước đó. Nó cũng là một kỹ thuật tốt để đánh giá chức năng thất trái, một chỉ dẫn quan trọng trong tiên lượng và quyết định các phương thức điều trị. Có thể làm siêu âm trong tư thế gắng sức nằm ngửa hoặc ngay sau khi gắng sức tư thế đứng.

Đánh giá mức độ xơ gan do viêm gan C nhờ siêu âm đàn hồi mô tiên tiến
Siêu âm có thể cho thấy hình ảnh của thất trái, những bất thường này có thể chứng tỏ thiếu máu cơ tim cục bộ hoặc nhồi máu trước đó

3.6 Chụp mạch vành

Chụp mạch vành là tiêu chuẩn vàng để xác định tình trạng tắc nghẽn, hẹp mạch vành, đây là một trong những phương pháp chẩn đoán chính xác nhất. Thuốc nhuộm có thể nhìn thấy bằng máy X-quang được tiêm vào mạch máu. Chụp mạch vành bằng máy chụp X-quang cho phép nhìn thấy được vị trí và mức độ hẹp, cho thấy liệu sự tắc nghẽn có thích hợp để phẫu thuật ghép cầu nối hoặc nong mạch vành qua da hay không.

3.7 Chụp buồng thất trái

Chụp buồng thất trái thường được thực hiện đồng thời với chụp mạch vành. Có thể thấy được chức năng toàn bộ hoặc từng vùng thất trái cũng như hở van hai lá nếu có. Chức năng thất trái là yếu tố chủ yếu quyết định tiên lượng trong bệnh mạch vành ổn định và mối nguy cơ của phẫu thuật ghép cầu nối.

4. Chẩn đoán đau thắt ngực bằng chụp CT tưới máu cơ tim

Chụp CT tưới máu cơ tim là một phương pháp chẩn đoán nhằm đánh giá lượng máu cung cấp cho cơ tim trong lúc đang nghỉ ngơi và vận động.

Nhờ đó, giúp tìm ra nguyên nhân gây ra đau thắt ngực hoặc sau khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim để kiểm tra xem vùng nào của tim không nhận đủ máu hoặc để đánh giá độ rộng của vùng tổn thương cơ tim.

Kỹ thuật này đặc biệt phù hợp với những bệnh nhân:

  • Bệnh nhân > 40t,
  • Đau thắt ngực ổn định
  • Bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành hoặc đau ngực không điển hình
  • Phân tầng nguy cơ bệnh mạch vành
  • Trước phẫu thuật có hoặc không liên quan đến tim
  • Sau can thiệp hoặc thủ thuật thông mạch vành
  • Đánh giá mức độ sống còn của cơ tim

Bệnh nhân có thể được chụp CT tưới máu cơ tim dưới các hình thức:

  • Chụp CT tưới máu cơ tim không dung thuốc.
  • Chụp CT tưới máu cơ tim có dùng thuốc (chất cản quang). Chỉ định này thường được chọn trong các trường hợp chụp mạch (chụp động mạch vành, động mạch cảnh, não, động mạch gan, động mạch thận...) và các trường hợp cần làm nổi bật những vùng bình thường và vùng bệnh lý của cơ thể giúp tạo hình ảnh đặc trưng, rõ nét giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán bệnh chính xác và đánh giá tiên lượng được bệnh.
  • Xạ hình tưới máu cơ tim khi vận động.

Ưu điểm của chụp CT tưới máu cơ tim

Lát cắt mỏng từ phương pháp chụp CT tưới máu cơ tim với hình ảnh rõ ràng cho phép đánh giá tổn thương nhỏ dưới 1cm. Do đó, đây được coi là phương pháp có độ nhạy cũng như độ đặc hiệu cao trong chụp động mạch vành.

Chẩn đoán đau thắt ngực
Lát cắt mỏng từ phương pháp chụp CT tưới máu cơ tim với hình ảnh rõ ràng cho phép đánh giá tổn thương nhỏ dưới 1cm

Hiện tại, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang đang sử dụng hệ thống máy chụp CT Revolution 512 lát hiện đại của hãng GE Healthcare (Mỹ), với phần mền chụp và phân tích hình ảnh tưới máu cơ tim duy nhất ở khu vực miền trung - tây nguyên. Máy có thể chụp tim và mạch vành độ nét cao với bất kỳ nhịp tim nào. Đây là một trong những trang thiết bị hiện đại, độ chinh xác cao có thể hỗ trợ các bác sĩ rất nhiều trong chẩn đoán các bệnh mạch vành có thể gây ra đau thắt ngực.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang trực tiếp thực hiện kỹ thuật đều là những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán hình ảnh:

Để biết thêm về Kỹ thuật Chẩn đoán đau thắt ngực bằng chụp CT tưới máu cơ tim tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang, quý khách có thể liên hệ theo số hotline 0258 3900 168 hoặc đăng ký khám TẠI ĐÂY.

XEM THÊM: