......

Viêm vùng chậu

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa II Huỳnh Thị Hiên - Bác sĩ Sản phụ khoa - Khoa Sản phụ khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang.

Viêm vùng chậu (Pelvic inflammatory disease hay PID) là viêm nhiễm cấp đường sinh dục trên của phụ nữ, bao gồm từ cổ tử cung, thân tử cung, vòi trứng, buồng trứng và các cơ quan lân cận. Đa số tình trạng này là do nhiễm trùng lây lan từ âm đạo hoặc cổ tử cung lên các cơ quan sinh dục vùng chậu. Viêm vùng chậu không được điều trị đúng mức có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm. Nếu bạn nghi ngờ bị viêm vùng chậu, hãy đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

1. Tác nhân gây bệnh thường gặp.

  • Chlamydia trachomatislậu cầu là hai vi khuẩn hay gặp nhất lây truyền qua đường tình dục có liên quan đến viêm vùng chậu. Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ các trường hợp do Chlamydia trachomatis và lậu cầu đang giảm; ở những phụ nữ được chẩn đoán mắc viêm vùng chậu cấp tính, xét nghiệm dương tính với một trong hai sinh vật này <50%.
  • Bên cạnh đó, Mycoplasma genitalium được cho là nguyên nhân ngày càng tăng.
  • Các loại vi khuẩn khác có thể gặp trong các điều kiện như nhóm ái khí (Colibacile, Lactobacile, Proteus) hay nhóm kỵ khí như (Bactorides, Fragilis, Clostridium).

Trong thực tế phần lớn các trường hợp viêm vùng chậu đều do nhiều loại vi khuẩn gây ra, bác sĩ có thể khó xác định được nguyên nhân gây ra bệnh nên việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn. Do bản chất đa tác nhân của bệnh, nên điều trị thường lựa chọn các phác đồ kháng sinh phổ rộng.

2. Các yếu tố nguy cơ của mắc viêm vùng chậu.

Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào, thường xảy ra hơn ở phụ nữ < 35 tuổi; hiếm xảy ra trước lần kinh nguyệt đầu tiên, sau khi mãn kinh và trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ có nhiều khả năng mắc viêm vùng chậu nếu họ:

  • Đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục mà không điều trị, thường là do lậu cầu hay Chlamydia trachomatis.
  • Có nhiều bạn tình, càng nhiều bạn tình thì nguy cơ càng lớn.
  • Bạn tình của họ có quan hệ tình dục với những người khác.
  • Không sử dụng bao cao su lúc quan hệ tình dục.
  • Trước đó đã mắc viêm vùng chậu.
  • Thụt rửa có thể khiến vi khuẩn gây viêm vùng chậu phát triển dễ dàng hơn. Nó đẩy vi khuẩn lên tử cung và ống dẫn trứng từ âm đạo. Vậy nên việc thụt rửa không được khuyến khích.
  • Sử dụng vòng tránh thai để ngừa thai. Nó làm tăng nguy cơ khoảng 2 đến 3 lần trong vòng 4 tháng đầu tiên sau khi đặt vòng, sau đó nguy cơ giảm dần. Nên tái khám trong tháng đầu tiên sau khi đặt vòng tránh thai.
Phác đồ điều trị viêm vùng chậu
Đặt vòng tránh thai có thể làm tăng nguy cơ bị viêm vùng chậu

3. Triệu chứng của viêm vùng chậu

Chẩn đoán thường dựa trên sự kết hợp giữa bệnh sử, khám lâm sàng và các kết quả xét nghiệm khác. Phụ nữ có thể không nhận ra bản thân họ bị viêm vùng chậu vì các triệu chứng nhẹ hoặc không có bất kỳ triệu chứng nào. Bởi vì các triệu chứng mơ hồ, nhiều trường hợp không được phụ nữ hoặc bác sĩ phụ khoa nhận ra.

Dưới đây là các triệu chứng thường gặp nhất:

  • Đau, nặng tức âm ỉ hạ vị, đau tăng nhiều hơn khi đi bộ hoặc vận động (đây là triệu chứng thường gặp nhất).
  • Đau hoặc ra máu trong và sau khi quan hệ tình dục.
  • Ra máu có thể ra máu bất thường trước và sau khi hành kinh và rong kinh.
  • Dịch tiết âm đạo bất thường, có mùi hôi.
  • Đau bụng kinh.
  • Sốt (thường chỉ ớn lạnh).
  • Tiểu buốt, tiểu đau, tiểu nhiều lần.

Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, có thể ngăn ngừa được các biến chứng của viêm vùng chậu. Một số biến chứng của bệnh là:

  • Hình thành mô sẹo ở cả trong và ngoài ống dẫn trứng, điều này có thể làm tắc ống dẫn trứng.
  • Thai lạc chỗ (GEU).
  • Vô sinh.
  • Đau bụng/đau vùng chậu lâu dài.
  • Hội chứng FITZ – HUGH – CURTIS (Viêm dính quanh gan)

5. Điều trị viêm vùng chậu

5.1 Nguyên tắc điều trị

Tất cả các phác đồ được sử dụng để điều trị phải bao gồm các kháng sinh phổ rộng, có hiệu quả chống lại lậu cầu và Chlamydia trachomatis bởi vì xét nghiệm âm tính đối với những vi khuẩn này không loại trừ viêm vùng chậu. Vai trò gây bệnh của vi khuẩn kỵ khí ở phụ nữ bị viêm vùng chậu vẫn chưa được xác định một cách dứt khoát.

Việc điều trị nên được bắt đầu ngay khi có nghi ngờ chẩn đoán, vì việc phòng ngừa các di chứng lâu dài phụ thuộc vào việc sử dụng sớm các loại kháng sinh thích hợp.

Khi lựa chọn một phác đồ điều trị, các bác sĩ nên cân nhắc tính khả dụng, chi phí và sự chấp nhận của bệnh nhân. Ở những phụ nữ bị ở mức độ lâm sàng nhẹ hoặc trung bình, phác đồ tiêm và uống có hiệu quả tương tự.

Phác đồ điều trị viêm vùng chậu
Cách điều trị viêm vùng chậu phổ biến và hiệu quả là dùng thuốc kháng sinh

5.2. Điều trị

5.2.1. Điều trị nội trú:

Quyết định cần thiết phải nhập viện hay không dựa trên đánh giá của bác sĩ và liệu người bệnh có bất kỳ tiêu chí nào sau đây hay không:

  • Không thể loại trừ trường hợp cấp cứu ngoại khoa (ví dụ, viêm ruột thừa), áp xe vòi trứng.
  • Thai kỳ.
  • Bệnh nặng.
  • Buồn nôn và nôn, hoặc sốt cao.
  • Không thể tuân theo hoặc dung nạp chế độ uống ngoại trú hoặc là không đáp ứng lâm sàng với liệu pháp kháng sinh đường uống.

5.2.2. Điều trị bằng thuốc tiêm tĩnh mạch

Kinh nghiệm lâm sàng sẽ hướng dẫn các quyết định liên quan đến việc chuyển đổi sang liệu pháp uống, thường có thể được bắt đầu trong vòng 24-48 giờ sau khi cải thiện lâm sàng. Ở những phụ nữ bị áp xe vòi trứng, nên theo dõi bệnh nhân nội trú ít nhất 24 giờ.

Các phác đồ khuyến cáo:

  • Cefotetan 2g tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày (cách nhau 12 giờ) và Doxycycline 100mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày (cách nhau 12 giờ)

Hoặc

  • Cefoxitin 2 tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày (cách nhau 12 giờ) và Doxycycline 100mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày (cách nhau 12 giờ)

Hoặc

  • Clindamycin 900mg tĩnh mạch x 3 lần/ngày (cách nhau 8 giờ) và Gentamicin tiêm tĩnh mạch hay tiêm bắp (2 mg/kg), sau đó liều duy trì (1.5 mg/kg) x 3 lần/ngày (cách nhau 8 giờ). Hoặc dùng liều duy nhất mỗi ngày (3-5 mg/kg).

Sử dụng phác đồ Cefotetan hoặc Cefoxitin đường tiêm, có thể uống Doxycyclin 100mg hai lần mỗi ngày trong vòng 24-48 giờ sau khi cải thiện lâm sàng cho đủ đợt điều trị là 14 ngày.

Đối với phác đồ Clindamycin/Gentamicin, uống Clindamycin (450mg uống 4 lần mỗi ngày) hoặc Doxycycline (100 mg x 2 lần/ngày) sau khi ngưng tiêm thuốc tĩnh mạch cho đủ liệu trình là 14 ngày.

Tuy nhiên, khi có áp xe vòi trứng, nên sử dụng Clindamycin (450mg uống bốn lần mỗi ngày) hoặc Metronidazole (500 mg hai lần mỗi ngày) để hoàn thành ít nhất 14 ngày điều trị với Doxycycline để mang lại hiệu quả bao phủ vi khuẩn kỵ khí hơn Doxycycline đơn thuần.

Nghiên cứu hiện tại còn hạn chế để ủng hộ việc sử dụng Cephalosporin thế hệ thứ hai hoặc thứ ba đường tiêm khác (ví dụ: Ceftizoxime, Cefotaxime và Ceftriaxone). Ngoài ra, các Cephalosporin này kém hoạt động hơn Cefotetan hoặc Cefoxitin đối với vi khuẩn kỵ khí.

Phác đồ thay thế

  • Ampicillin/Sulbactam 3g tiêm tĩnh mạch x 4 lần/ngày (cách nhau 6 giờ) và Doxycycline 100mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày (cách nhau 12 giờ)

Ampicillin/Sulbactam cộng với doxycycline có hiệu quả chống lại Chlamydia trachomatis, lậu cầu và vi khuẩn kỵ khí ở phụ nữ bị áp xe vòi trứng.

5.2.3. Điều trị bằng thuốc tiêm bắp hay uống

Liệu pháp tiêm bắp/uống có thể được xem xét cho những phụ nữ bị viêm vùng chậu cấp tính từ nhẹ đến trung bình nặng, vì kết quả lâm sàng tương tự như được điều trị bằng liệu pháp tiêm tĩnh mạch .

Khi bệnh nhân không đáp ứng trong vòng 72 giờ nên được đánh giá lại để xác định chẩn đoán và chuyển sang sử dụng liệu pháp tiêm tĩnh mạch

Các phác đồ khuyến cáo

  • Ceftriaxone 250mg tiêm bắp 1 liều duy nhất và Doxycycline 100mg uống 2 lần trong 14 ngày.

Có hay không Metronidazole 500 mg uống x 2 lần/ngày trong 14 ngày.

Hoặc

  • Cefoxitin 2g tiêm bắp 1 liều duy nhất và Probenecid 1g uống cùng lúc 1 liều duy nhất và

Doxycycline 100mg uống x 2 lần/ngày trong 14 ngày.

Có hay không Metronidazole 500 mg uống x 2 lần/ngày trong 14 ngày.

Hoặc

  • Cephalosporin thế hệ III khác: Ceftizoxime hay Cefotaxime và

Doxycycline 100mg uống trong 14 ngày

Có hay không Metronidazole 500 mg uống x 2 lần/ngày trong 14 ngày.

Các Cephalsporin thế hệ thứ ba được khuyến cáo hạn chế trong việc bao phủ vi khuẩn kỵ khí. Do đó, cân nhắc việc bổ sung Metronidazole vào phác đồ điều trị với Cephalosporin thế hệ thứ ba.

Các phác đồ này cung cấp khả năng chống lại các nguyên nhân thường gặp của viêm vùng chậu, nhưng sự lựa chọn một Cephalosporin tối ưu là không rõ ràng. Cefoxitin, một Cephalosporin thế hệ thứ hai, có khả năng bao phủ kỵ khí tốt hơn Ceftriaxone, và kết hợp với Probenecid và Doxycycline có hiệu quả trong đáp ứng lâm sàng ngắn hạn ở phụ nữ bị viêm vùng chậu. Ceftriaxone có khả năng chống lại lậu cầu tốt hơn.

Mặc dù thông tin liên quan đến các phác đồ tiêm bắp và uống khác còn hạn chế, một số thuốc đã trải qua ít nhất một thử nghiệm lâm sàng và đã chứng minh được khả năng bao phủ phổ rộng.

Azithromycin đã chứng minh hiệu quả lâm sàng ngắn hạn trong một thử nghiệm ngẫu nhiên khi được sử dụng dưới dạng đơn trị liệu (500 mg IV mỗi ngày trong 1-2 liều, tiếp theo là 250mg uống mỗi ngày trong 12–14 ngày) hoặc kết hợp với Metronidazole. Một nghiên cứu khác, nó có hiệu quả khi sử dụng 1g uống mỗi tuần một lần trong 2 tuần kết hợp với Ceftriaxone 250mg tiêm bắp liều duy nhất. Khi xem xét các phác đồ thay thế này, việc bổ sung Metronidazole nên được xem xét để bao phủ cả vi khuẩn yếm khí.

Phác đồ điều trị viêm vùng chậu
Tiêm bắp tay là một trong những cách điều trị viêm vùng chậu cấp tính vừa nhẹ đến trung bình nặng

Do sự xuất hiện của lậu cầu kháng Quinolon, các phác đồ bao gồm thuốc Quinolon không còn được khuyến cáo thường xuyên để điều trị. Nếu bệnh nhân có dị ứng Cephalosporin, tỷ lệ lưu hành cộng đồng và nguy cơ cá nhân đối với bệnh lậu thấp kèm có khả năng theo dõi, cân nhắc Fluoroquinolones trong 14 ngày (Levofloxacin 500 mg uống một lần mỗi ngày, Ofloxacin 400mg hai lần mỗi ngày, hoặc Moxifloxacin 400 mg uống một lần mỗi ngày) với Metronidazole trong 14 ngày (500 mg uống hai lần mỗi ngày). Các xét nghiệm chẩn đoán bệnh lậu phải được thực hiện trước khi tiến hành điều trị và người bệnh cần được quản lý như sau:

  • Nếu kết quả cấy vi khuẩn lậu dương tính, việc điều trị cần dựa trên kết quả xét nghiệm kháng sinh đồ.
  • Nếu phân lập được xác định là lậu cầu kháng Quinolon hoặc nếu không thể đánh giá tính nhạy cảm với kháng sinh thì nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa bệnh truyền nhiễm.

5.2.4. Các cân nhắc quản lý khác

Để giảm thiểu sự lây truyền bệnh, phụ nữ nên được hướng dẫn không nên quan hệ tình dục cho đến khi hoàn thành đầy đủ liệu trình điều trị, các triệu chứng đã hết và bạn tình đã được điều trị đầy đủ. Tất cả phụ nữ được chẩn đoán mắc viêm vùng chậu cấp tính nên được xét nghiệm HIV, cũng như lậu cầu và Chlamydia.

  • Theo dõi đáp ứng điều trị

Bệnh nhân thường có sự cải thiện về mặt lâm sàng (ví dụ: giảm đau bụng) trong vòng 3 ngày sau khi bắt đầu điều trị. Nếu không có cải thiện lâm sàng nào xảy ra trong vòng 72 giờ sau khi điều trị tiêm bắp hay uống ngoại trú, thì nên nhập viện, đánh giá thay đổi phác đồ kháng sinh và chẩn đoán bổ sung.

Tất cả phụ nữ đã được chẩn đoán do Chlamydia hoặc lậu cầu nên được kiểm tra lại 3 tháng sau khi điều trị, cho dù bạn tình của họ có được điều trị hay không. Nếu không thể kiểm tra lại sau 3 tháng, những phụ nữ này nên được kiểm tra lại bất cứ khi nào họ đến trung tâm chăm sóc y tế trong 12 tháng sau khi điều trị.

  • Quản lý bạn tình

Người đàn ông có quan hệ tình dục với phụ nữ bị viêm vùng chậu trong vòng 60 ngày trước khi cô ấy bắt đầu có các triệu chứng nên được đánh giá, xét nghiệm và điều trị Chlamydia và lậu cầu, bất kể nguyên nhân phân lập từ người phụ nữ. Nếu lần quan hệ tình dục gần đây nhất của người phụ nữ đó là> 60 ngày trước khi bắt đầu có các triệu chứng hoặc chẩn đoán, thì bạn tình gần đây nhất nên được điều trị.

Bạn tình nam của phụ nữ bị viêm vùng chậu do Chlamydia trachomatis, lậu cầu gây ra thường không có triệu chứng. Bạn tình nên được hướng dẫn để kiêng quan hệ tình dục cho đến khi họ và bạn tình của họ đã được điều trị đầy đủ (nghĩa là cho đến khi liệu pháp hoàn thành và các triệu chứng đã khỏi).

5.2.5. Một số trường hợp đặc biệt

  • Dị ứng, không dung nạp và phản ứng có hại

Phản ứng chéo giữa Penicilin và Cephalosporin là <2,5% ở những người có tiền sử dị ứng với Penicilin. Nguy cơ phản ứng chéo với Penicilin cao nhất với Cephalosporin thế hệ thứ nhất, nhưng không đáng kể giữa hầu hết các giữa hầu hết các Cephalosporin thế hệ thứ hai (Cefoxitin) và tất cả các Cephalosporin thế hệ thứ ba (Ceftriaxone), Cephalosporin thế hệ thứ hai (Cefoxitin) và tất cả các Cephalosporin thế hệ thứ ba (Ceftriaxone).

Chỉ định can thiệp ngoại khoa không phải là một chỉ định phổ biến. Can thiệp ngoại khoa được chỉ định chủ yếu trong trường hợp không thể kiểm soát được bằng nội khoa.

  • Thai kỳ

Phụ nữ mang thai nghi ngờ mắc bệnh có nguy cơ cao sinh non. Những phụ nữ này nên được nhập viện và điều trị bằng kháng sinh đường tĩnh mạch.

  • Vòng tránh thai trong tử cung

Nếu người sử dụng vòng tránh thai được chẩn đoán viêm vùng chậu, thì vòng tránh không cần phải tháo ra. Tuy nhiên, người phụ nữ nên được điều trị và theo dõi lâm sàng chặt chẽ. Nếu không có cải thiện lâm sàng nào xảy ra trong vòng 48-72 giờ sau khi điều trị, nên xem xét loại bỏ vòng tránh thai.

Phác đồ điều trị viêm vùng chậu
Cho đến khi hoàn thành phác đồ điều trị viêm vùng chậu, phụ nữ được khuyến cáo không nên quan hệ tình dục

6. Giảm nguy cơ mắc bệnh bằng biện pháp gì?

  • Có lối sống lành mạnh. Quan hệ tình dục an toàn. Duy trì mối quan hệ một vợ một chồng lâu dài từ cả hai phía với người bạn tình đã được xét nghiệm và có kết quả kiểm tra âm tính với STD.
  • Không nên quan hệ tình dục qua đường hậu môn hoặc miệng.
  • Dùng bao cao su đúng cách mỗi khi quan hệ tình dục.
  • Tiến hành xét nghiệm Chlamydia hàng năm nếu có quan hệ tình dục và từ 25 tuổi trở xuống.
  • Kịp thời thăm khám bác sĩ nếu bạn cho rằng bạn hoặc bạn tình của mình bị hoặc phơi nhiễm với một bệnh STD; hoặc bạn có triệu chứng nghi ngờ viêm vùng chậu.
  • Vệ sinh khi có kinh nguyệt, vệ sinh cá nhân và vệ sinh giao hợp đúng cách.
  • Không nên thụt rửa âm đạo.

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã triển khai Gói khám, sàng lọc bệnh lý phụ khoa cơ bản, nhằm giúp chị em phụ nữ phát hiện sớm các bệnh lý viêm nhiễm, kể cả bệnh viêm vùng chậu, giúp điều trị dễ dàng, không tốn kém. Ngoài ra còn thực hiện sàng lọc phát hiện sớm ung thư phụ khoa (Ung thư cổ tử cung).

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 20% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/8 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

222 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan
  • đau vùng chậu mạn tính
    Biểu hiện khi đau vùng chậu mạn tính

    Đau vùng chậu mãn tính ở phụ nữ là tình trạng đau ở vùng dưới rốn và giữa hông, có thể kéo dài sáu tháng hoặc lâu hơn. Dấu hiệu đau vùng chậu này có thể là triệu chứng của ...

    Đọc thêm
  • Viêm nhiễm âm đạo là nguyên nhân hàng đầu gây tắc ống dẫn trứng
    Viêm ống dẫn trứng và nguy cơ vô sinh

    Viêm đường ống dẫn trứng là tình trạng viêm nhiễm xảy ra ở 1 hoặc 2 ống dẫn trứng. Hiện tượng viêm ống dẫn trứng thường xảy ra bởi tình trạng nhiễm trùng lan lên từ âm đạo, tử cung ...

    Đọc thêm
  • spmerocin
    Công dụng thuốc Spmerocin

    Spmerocin thuộc nhóm thuốc trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, kháng virus và nấm. Thuốc chứa thành phần chính là Meropenem (dưới dạng hỗn hợp Meropenem trihydrat và natri carbonat) 1g, bào chế dưới dạng bột pha tiêm, đóng ...

    Đọc thêm
  • ultibact
    Công dụng thuốc Ultibact

    Ultibact là 1 loại kháng sinh kết hợp có công dụng trong điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, kháng virus và kháng nấm. Công dụng thuốc Ultibact sẽ được chia sẻ trong bài viết sau đây.

    Đọc thêm
  • Romapen
    Công dụng thuốc Romapen

    Romapen được điều chế với thành phần chính Meropenem - là một loại kháng sinh nhóm β-lactam được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, bao gồm nhiễm trùng huyết, viêm màng não, nhiễm ...

    Đọc thêm