......

Gây mê trong phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt

Liệt dây thần kinh mặt

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Đức Thông - Bác sĩ Gây mê hồi sức - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Bác sĩ đã có 14 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Gây mê hồi sức.

Phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt là một phẫu thuật khó, thời gian thực hiện kéo dài. Gây mê nội khí quản là phương pháp vô cảm được sử dụng để thực hiện phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt.

1. Phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt

Dây thần kinh VII có nhiệm vụ chi phối vận động của các cơ bám da mặt. Do đó, khi dây thần kinh VII bị tổn thương, dù tổn thương ở trung ương hay ngoại vi cũng sẽ gây liệt các cơ bám da mặt. Bệnh nhân bị liệt cơ mặt sẽ có các triệu chứng lâm sàng như:

  • Da mặt bên liệt bị sa trễ, mất trương lực cơ, nhòa rãnh mũi má;
  • Môi dưới sa trễ, khó mím miệng, ăn uống rơi vãi;
  • Mí mắt dưới bị trễ, nhắm mắt không kín, hay chảy nước mắt, có thể bị khô hoặc loét giác mạc.

Có nhiều nguyên nhân làm tổn thương dây thần kinh VII gây liệt mặt như: do chấn thương vỡ nền sọ làm đứt, dập hoặc chèn ép thần kinh; do hậu quả sau các phẫu thuật lấy u dây thần kinh VII, phẫu thuật vào khớp thái dương hàm; do nhiễm trùng vùng mang tai- dưới hàm; tai biến mạch máu não, u não,...

Phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt là một trong những phương pháp điều trị liệt dây thần kinh VII, giúp phục hồi sự cân đối của mặt và khắc phục những rối loạn do liệt thần kinh, liệt cơ gây nên. Phương pháp vô cảm được sử dụng cho phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặtgây mê nội khí quản.

2. Gây mê trong phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt

Gây mê nội khí quản được chỉ định trong phẫu thuật lồng ngực cắt u trung thất
Phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt là một trong những phương pháp điều trị liệt dây thần kinh VII, giúp phục hồi sự cân đối của mặt và khắc phục những rối loạn do liệt thần kinh

2.1. Chỉ định

Phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt là một phẫu thuật phức tạp, thời gian phẫu thuật thường kéo dài. Tuy nhiên kỹ thuật gây mê hồi sức lại không quá khó, trừ khi người bệnh có tổn thương thần kinh trung ương kèm theo hoặc tri giác kém. Gây mê nội khí quản là phương pháp gây mê toàn thân giúp kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật và hồi sức sau phẫu thuật. Gây mê nội khí quản được chỉ định ở người bệnh bị liệt dây VII có chỉ định ghép thần kinh để điều trị.

2.2. Chuẩn bị

Để thực hiện gây mê nội khí quản trong phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt, cần có bác sĩ, điều dưỡng chuyên khoa gây mê hồi sức.

Về phương tiện, cần có:

  • Hệ thống máy gây mê kèm thở, thiết bị theo dõi chức năng sống (mạch, điện tim, huyết áp, bão hòa Oxy, tần số thở, nhiệt độ), theo dõi độ mê Entropi, theo dõi độ mềm cơ (TOF), nguồn oxy và các loại máy móc khác như máy phá rung tim, máy hút đàm, máy sưởi ấm, máy truyền dịch...
  • Đèn soi thanh quản, ống nội khí quản các cỡ, ống hút, mặt nạ, bóng bóp, canul miệng hầu, kìm Magill, mandrin mềm;
  • Lidocain 10% dạng xịt, Salbutamol dạng xịt;
  • Các phương tiện cần chuẩn bị sẵn để dự phòng đặt nội khí quản khó: ống Cook, mask thanh quản (laryngeal mask), ống soi phế quản mềm, bộ mở khí quản, kìm mở miệng,...

Để chuẩn bị cho gây mê nội khí quản, bác sĩ sẽ thăm khám gây mê người bệnh trước mổ để phát hiện và phòng ngừa các nguy cơ, giải thích cho người bệnh mục đích, quy trình thực hiện để người bệnh cùng hợp tác. Đánh giá về việc đặt ống nội khí quản khó ở người bệnh để thực hiện nếu quy trình đặt nội khí quản thông thường không thực hiện được. Bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân sử dụng thuốc an thần từ tối hôm trước mổ nếu cần thiết.

2.3. Kỹ thuật thực hiện gây mê trong phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt

Gây mê nội khí quản được sử dụng trong phẫu thuật cắt u tiểu khung
Người bệnh nằm ngửa, thở oxy 100% lưu lượng 3-6 lít/phút trước khởi mê ít nhất 5 phút

Người bệnh nằm ngửa, thở oxy 100% lưu lượng 3-6 lít/phút trước khởi mê ít nhất 5 phút. Nhân viên y tế tiến hành lắp máy theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, sau đó thiết lập đường truyền. Thực hiện tiền mê nếu cần thiết.

Thực hiện khởi mê với các thuốc:

  • Thuốc ngủ: chọn một trong các loại thuốc như thuốc mê tĩnh mạch (propofol, etomidat), thuốc mê bốc hơi (sevoflurane, desflurane,...)
  • Thuốc giảm đau: fentanyl, sufentanil...
  • Thuốc giãn cơ: rocuronium, vecuronium, succinylcholin...

Ống nội khí quản sẽ được đặt khi đạt các điều kiện là người bệnh ngủ sâu, đủ độ giãn cơ (trong đa số các trường hợp). Có hai kỹ thuật có thể dùng để đặt nội khí quản gây mê toàn thân là: đặt nội khí quản qua đường miệng và đặt nội khí quản qua đường mũi.

Kỹ thuật đặt nội khí quản qua đường miệng

  • Bác sĩ (hoặc điều dưỡng chuyên khoa gây mê hồi sức) mở miệng bệnh nhân, đưa đèn soi thanh quản vào bên phải miệng, gạt lưỡi sang bên trái, đẩy đèn sâu, phối hợp với tay phải đè sụn giáp nhẫn tìm nắp thanh môn và lỗ thanh môn. Tiến hành khởi mê nhanh và làm thủ thuật Sellick trong trường hợp dạ dày đầy (ấn sụn nhẫn 20-30 kg ngay khi người bệnh mất tri giác tới khi đặt ống nội khí quản xong).
  • Luồn ống nội khí quản nhẹ nhàng qua lỗ thanh môn, dừng lại khi bóng của ống nội khí quản đi qua dây thanh âm 2-3cm. Rút đèn soi thanh quản nhẹ nhàng, sau đó bơm bóng nội khí quản.
  • Bác sĩ sẽ nghe 2 bên phổi và xem kết quả biểu đồ EtCO2 để kiểm tra ống nội khí quản đã đúng vị trí hay chưa. Nếu đã đúng vị trí, bác sĩ sẽ cố định ống bằng băng dính và đặt canul vào miệng để tránh cắn ống nếu cần thiết.

Kỹ thuật đặt nội khí quản đường mũi

  • Bác sĩ chọn bên mũi sẽ thông nội khí quản, nhỏ vào mũi các thuốc co mạch như naphazolin, otrivine,... Sau đó chọn ống nội khí quản với kích cỡ phù hợp, luồn ống nội khí quản đã được bôi trơn bằng mỡ lidocain qua lỗ mũi.
  • Mở miệng bệnh nhân, đưa đèn soi thanh quản vào bên phải miệng, gạt lưỡi người bệnh sang bên trái, đẩy đèn sâu, phối hợp với tay phải đè sụn giáp nhẫn tìm nắp thanh môn và lỗ thanh môn.
  • Trong trường hợp thuận lợi, tiến hành luồn nhẹ nhàng ống nội khí quản qua lỗ thanh môn, dừng lại khi bóng của ống nội khí quản đi qua dây thanh âm 2-3cm. Dùng kìm Magill hướng đầu ống nội khí quản vào đúng lỗ thanh môn, người phụ đẩy ống nội khí quản từ bên ngoài trong trường hợp khó.
  • Rút đèn soi thanh quản nhẹ nhàng, bơm bóng nội khí quản. Bác sĩ kiểm tra ống nội khí quản đã đúng vị trí chưa bằng cách nghe phổi và kiểm tra kết quả EtCO2. Ống nội khí quản được cố bằng băng dính.

Trong trường hợp thực hiện không thành công hai quy trình trên, bác sĩ sẽ chuyển sang thực hiện quy trình đặt ống nội khí quản khó sử dụng ống soi mềm để đặt nội khí quản.

Trong quá trình phẫu thuật, để duy trì gây mê toàn thân, người bệnh sẽ được sử dụng thuốc mê tĩnh mạch hoặc thuốc mê bốc hơi, thuốc giảm đau, thuốc giãn cơ. Độ sâu của gây mê toàn thân sẽ được theo dõi chặt chẽ dựa vào các thông số như nhịp tim, huyết áp, vã mồ hôi, chảy nước mắt (PRST); MAC, BIS, Entropy. Hô hấp người bệnh được kiểm soát bằng máy thở. Các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng ống nội khí quản luôn được theo dõi chặt chẽ. Đánh giá độ mềm cơ dựa vào máy đo độ giãn cơ TOF.

Sau khi phẫu thuật nội soi điều trị liệt mặt kết thúc, ống nội khí quản được rút khi người bệnh đáp ứng các tiêu chuẩn:

  • Người bệnh tỉnh, làm được theo lệnh, tự nâng đầu trên 5 giây, TOF > 90%, Entropi 90 -100, thân nhiệt > 35o C.
  • Tự thở đều, tần số thở trong giới hạn bình thường, mạch huyết áp ổn định; không có biến chứng của gây mê và phẫu thuật.

3. Các tai biến có thể gặp khi gây mê trong phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt và cách xử lý

đau họng
Sau khi rút ống nội khí quản, bệnh nhân có thể gặp những biến chứng như suy hô hấp, đau họng - khàn tiếng,...

3.1. Trào ngược dịch dạ dày vào đường thở

Nếu có dịch tiêu hóa trong khoang miệng và đường thở người bệnh. Bác sĩ nhanh chóng cho người bệnh nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang bên, tiến hành hút sạch ngay dịch. Đặt nhanh ống nội khí quản và hút sạch dịch trong đường thở. Người bệnh sẽ được theo dõi chặt chẽ sau mổ để đề phòng nhiễm trùng phổi.

3.2. Rối loạn huyết động

Trong quá trình gây mê toàn thân để phẫu thuật nội soi ghép thần kinh điều trị liệt mặt, người bệnh có thể bị tăng huyết áp, hạ huyết áp, nhịp tim chậm, nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim,... Bác sĩ sẽ xử trí tùy theo triệu chứng và nguyên nhân cụ thể của từng rối loạn huyết động cụ thể.

3.3. Tai biến do đặt nội khí quản

  • Không đặt được ống nội khí quản : ê-kíp gây mê sẽ chuyển sang quy trình đặt ống nội khí quản khó hoặc chuyển sang phương pháp vô cảm khác.
  • Đặt nhầm vào dạ dày: Ê-kíp gây mê sẽ tiến hành đặt lại ống nội khí quản.
  • Co thắt thanh-khí-phế quản: Nếu khó hoặc không thể thông khí, nghe phổi có ran rít hoặc phổi câm, người bệnh sẽ được cung cấp oxy đầy đủ, thêm thuốc ngủ và giãn cơ, đảm bảo thông khí và cho các thuốc giãn phế quản, corticoid. Nếu vẫn không kiểm soát được hô hấp, ê- kíp gây mê sẽ áp dụng quy trình đặt ống nội khí quản khó.
  • Chấn thương khi đặt ống nội khí quản: Các chấn thương có thể xảy ra trong quá trình đặt ống nội khí quản như chảy máu, gãy răng, tổn thương dây thanh âm, rơi dị vật vào đường thở,... Việc xử lý tùy theo thương tổn cụ thể.

3.4. Các biến chứng về hô hấp

Nếu ống nội khí quản bị gập, tụt, bị đẩy sâu vào một phổi, tụt hoặc hở hệ thống hô hấp, hết nguồn oxy, soda hết tác dụng,... sẽ dẫn tới thiếu oxy và ưu thán. Ê-kíp gây mê sẽ đảm bảo ngay thông khí, cung cấp oxy 100% và giải quyết nguyên nhân.

3.5. Biến chứng sau rút ống nội khí quản

Sau khi rút ống nội khí quản, bệnh nhân có thể gặp có biến chứng như suy hô hấp, đau họng khàn tiếng, co thắt thanh-khí-phế quản, viêm đường hô hấp trên, hẹp thanh-khí quản,... Việc xử lý sẽ theo triệu chứng và nguyên nhân cụ thể.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

118 lượt đọc

Bài viết liên quan