......

Phác đồ điều trị ngộ độc thuốc tê toàn thân

Khi nhận thấy các dấu hiệu triệu chứng của ngộ độc thuốc tê toàn thân, điều trị ban đầu là cần ngừng ngay việc tiêm thuốc tê. Sau đó yêu cầu người đến trợ giúp, cũng như kiểm soát đường thở cho người bệnh. Sau khi thực hiện xong các biện pháp điều trị ban đầu, cần thực hiện ngay lập tức việc điều trị đặc hiệu.

1. Ngộ độc thuốc tê nguy hiểm thế nào?

Thuốc tê là loại hiện được sử dụng rộng rãi trong y khoa. Các trường hợp ngộ độc thuốc tê thường hiếm gặp nhưng không thể khẳng định là không xảy ra. Ngộ độc thuốc tê có thể gây ra những triệu chứng thoáng qua cho đến các triệu chứng gây hậu quả nặng nề trên hệ thống thần kinh trung ương và tim. Do đó, nếu không điều trị ngộ độc thuốc tê kịp thời và đúng phác đồ thì tỷ lệ tử vong sẽ rất cao.

Nguyên nhân gây ngộ độc thuốc tê là do tiêm thuốc tê vào mạch máu và sự hấp thụ thuốc tê vào mạch máu bất thường do sử dụng nồng độ thuốc tê cao hoặc sử dụng thuốc số lượng lớn, gây tê tĩnh mạch bị tuột garo hoặc do thả garo quá sớm. Bên cạnh đó, một số yếu tố nguy cơ gây ngộ độc thuốc tê như:

  • Các loại thuốc tê như độc tính thuốc tê Bupivacaine > thuốc tê Lidocaine > thuốc tê Ropivacaine > Hỗn hợp thuốc tê > thuốc tê Levobupivacaine.
  • Gây tê vùng có mạch máu lớn sẽ tăng nguy cơ tiêm thuốc vào mạch máu và tăng nguy cơ hấp thu thuốc tê;
  • Khi gây tê ở các vùng sau sẽ tăng nguy cơ ngộ độc thuốc tê hơn so với các vùng khác: Gây tê liên sườn > gây tê ống cùng > gây tê ngoài màng cứng > gây tê đám rối cánh tay > gây tê dưới da;
  • Tiêm 1 liều hoặc truyền liên tục thuốc;
  • Người bệnh bị rối loạn chức năng tim mạch, hay các bệnh lý về thận và gan;
  • Người cao tuổi, suy kiệt hoặc trẻ em, phụ nữ có thai sẽ tăng nguy cơ ngộ độc thuốc tê hơn.

Khi bị ngộ độc thuốc tê toàn thân, thường sẽ xuất hiện các triệu chứng từ 1-5 phút nhưng có thể muộn hơn trong vòng 60 phút sau khi tiêm thuốc tê, thậm chí sau 12 giờ. Các triệu chứng sẽ tương ứng với khu vực bị ảnh hưởng bởi thuốc tê. Cụ thể như sau:

  • Đối với hệ thần kinh trung ương: Triệu chứng ban đầu sau khi bị ngộ độc thuốc tê là người bệnh thấy vị kim loại trong miệng, miệng tê, nhìn đôi, ù tai hoặc hoa mắt chóng mặt và nói khó. Một số trường hợp nặng hơn có thể giật cơ hoặc ngủ gà, mất ý thức.
  • Biểu hiện trên tim mạch: Ngộ độc tim thường gặp do ngộ độc bupivacain, các triệu chứng thường xuất hiện là rối loạn nhịp tim hoặc rối loạn dẫn truyền trong tim. Lúc đầu có thể tăng huyết rối loạn nhịp thất sau đó tụt huyết áp tiến triển. Nặng hơn có thể gây ngừng tim, nếu không điều trị kịp thời, người bệnh có thể tử vong ngay sau đó.
Gây tê
Thuốc tê là loại hiện được sử dụng rộng rãi trong y khoa

2. Phác đồ điều trị khi bị ngộ độc thuốc tê toàn thân

Khi nhận thấy các dấu hiệu triệu chứng của ngộ độc thuốc tê toàn thân, phương pháp điều trị ban đầu là cần ngừng ngay việc tiêm thuốc tê. Sau đó yêu cầu người đến trợ giúp, cũng như kiểm soát đường thở cho người bệnh.

Trong các trường hợp cần thiết, để chắc chắn thì cần thực hiện phương pháp đặt nội khí quản cho thở oxy 100% và đảm đảm thông khí đủ, đặt thêm đường truyền tĩnh mạch chắc chắn và đánh giá tình trạng tim mạch cũng như lấy máu làm xét nghiệm, nhưng không vì việc này mà làm chậm trễ điều trị ngộ độc thuốc tê toàn thân.

Sau khi thực hiện xong các biện pháp điều trị ngộ độc thuốc tê toàn thân ban đầu, cần thực hiện ngay lập tức việc điều trị đặc hiệu theo các phương pháp sau đây:

Trường hợp ngộ độc thần kinh trung ương:

  • Dùng Thiopental liều lượng 150 – 300 mg TM hoặc sử dụng Midazolam 0,1 – 0,2 mg/ kg.
  • Xem xét việc sử dụng Lipid dạng nhũ tương đường tĩnh mạch nhằm giảm nồng độ thuốc tê trong huyết tương người bệnh.
  • Nếu tình trạng người bệnh ổn định sau khi thực hiện các biện pháp xử trí ngộ độc thuốc thì có thể tiếp tục cuộc phẫu thuật.

Trường hợp ngộ độc tim:

  • Thông thường tim mạch ít khi bị ngộ độc thuốc tê hơn so với hệ thần kinh trung ương, tuy nhiên khi bị ngộ độc tim mạch thì việc điều trị ngộ độc thuốc tê khó hơn và nguy hiểm hơn, do đó cần bù nhanh khối lượng tuần hoàn bằng việc dùng Intralipid 20% (liều áp dụng cho bệnh nhân 70kg) để tạo bể chứa lipid làm lắng tủa thuốc tê, đồng thời hoạt hóa kênh Ca, K, tăng hoạt động cơ tim cũng như tăng tổng hợp ATP và giảm gắn kết thuốc tê lên cơ tim.
  • Tiêm bolus bằng đường tĩnh mạch Intralipid 20% với liều lượng 1,5 ml/kg trong 1 phút (100 ml. Nên tiêm nhắc lại 2 liều bolus (cách nhau 5 phút) trong trường hợp tuần hoàn chưa hồi phục đủ.
  • Sau đó cần tiến hành hồi sức tim, phổi và não cho người bệnh.
  • Bắt đầu việc truyền tĩnh mạch Intralipid 20% với tốc độ 0,25ml/kg/phút, lưu ý cần dùng 400ml trong vòng 20 phút. Trường hợp tuần hoàn hiệu quả chưa phục hồi thì sau 5 phút tăng liều truyền tĩnh mạch lên 0,5 ml/kg/phút trong vòng 10 phút với liều lượng dùng là 400ml cho đến khi tuần hoàn của người bệnh hồi phục đầy đủ và ổn định
  • Sốc điện khi rung thất, sử dụng nhóm thuốc vận mạch và hồi sức tim phổi trong suốt quá trình điều trị Intralipid.
Đặt nội khí quản qua đường miệng
Thực hiện phương pháp đặt nội khí quản cho thở oxy 100% và đảm đảm thông khí đủ, đặt thêm đường truyền tĩnh mạch

3. Phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thuốc tê toàn thân

Ngộ độc thuốc tê toàn thân rất nguy hiểm, do vậy việc phòng ngừa ngộ độc thuốc tê là phương pháp cần được lưu ý. Các phương pháp phòng ngừa ngộ độc thuốc tê gồm:

  • Khi sử dụng thuốc tê, nên dùng liều thuốc tê nhỏ nhất để đạt mức tê cũng như thời gian tê mong muốn. Đồng thời, sử dụng các loại thiết bị hỗ trợ gây tê như gây tê dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc máy kích thích thần kinh.
  • Trước khi gây tê cho người bệnh cần biết được các yếu tố nguy cơ ngộ độc thuốc tê của người bệnh.
  • Trước mỗi lần tiêm nên hút ngược xilanh để tránh tiêm vào mạch máu. Đồng thời, khi tiêm cần tiêm chậm, quan sát và hỏi người bệnh để phát hiện những dấu hiệu ngộ độc thuốc tê ngay từ ban đầu.
  • Sau khi tiêm thuốc tê, cần theo dõi bệnh nhân liên tục bằng Monitor ít nhất 30 phút và nói chuyện, giao tiếp thường xuyên với bệnh nhân để phát hiện triệu chứng ngộ độc thuốc tê toàn thân.
  • Khi người bệnh có thay đổi trạng thái tinh thần, triệu chứng thần kinh hoặc dấu hiệu bất thường về tim mạch sau gây tê thì cần nghĩ đến dấu hiệu ngộ độc thuốc tê toàn thân.
  • Cân nhắc các trường hợp ngộ độc thuốc tê toàn thân ngay cả khi tiêm liều thuốc tê nhỏ, tê dưới da, tê niêm mạc, phẫu thuật viên tê, sau tháo garo. Đồng thời thảo luận về liều thuốc tê trong phần kiểm tra trước khi phẫu thuật cho người bệnh.
  • Nên sử dụng Lipid 20% ngay khi có biểu hiện đầu tiên và rõ ràng của ngộ độc thuốc tê toàn thân do bất kỳ loại thuốc tê nào.
  • Tuy nhiên, nên sử dụng liều adrenalin ≤ 1 mcg/kg/phút thì sẽ có hiệu quả hơn trong việc hồi sinh tim phổi, đồng thời nâng cao việc điều trị ở bệnh nhân ngừng tim hoặc tụt huyết áp do ngộ độc thuốc tê.
Thời gian vàng để cấp cứu bệnh nhân bị sốc phản vệ
Ngộ độc thuốc tê toàn thân rất nguy hiểm

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn thực hành gây mê phẫu thuật an toàn theo các hướng dẫn quốc tế. Vinmec có đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng gây mê giàu kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại như: máy dò thần kinh, máy siêu âm, hệ thống kiểm soát đường thở khó của Karl Storz, hệ thống theo dõi gây mê toàn diện AoA (Adequate of Anesthesia) của GE bao gồm theo dõi độ mê, độ đau và độ giãn cơ sẽ mang lại chất lượng cao và an toàn, giúp bệnh nhân gây mê vừa đủ, không thức tỉnh, không tồn dư thuốc giãn cơ sau mổ.

Hệ thống Y tế Vinmec cũng tự hào là bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam ký kết với Hiệp hội Gây mê Thế giới (WFSA) hướng đến mục tiêu trở thành bệnh viện an toàn nhất về gây mê phẫu thuật tại Đông Nam Á.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 20% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/8 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

2.8K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan