......

Vai trò bảo vệ của vi khuẩn H.Pylori

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Bác sĩ nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Dữ liệu được công bố gần đây cho thấy có sự mơ hồ rõ ràng liên quan đến vấn đề nghiên cứu cơ chế hình thành vết loét và vai trò của vi khuẩn H. pylori trong quá trình tạo vết loét và sinh ung thư. Trên cơ sở đó, các chiến lược quản lý đối với những bệnh nhân nội trú này là vô cùng khó khăn đối với các bác sĩ lâm sàng.

1. Tổng quan

Rõ ràng là sự hiểu biết đầy đủ về cơ chế của tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng do viêm cần có cách tiếp cận kỹ lưỡng hơn, bằng cách xem xét các yếu tố lây nhiễm và không lây nhiễm, ngoại sinh và nội sinh, đồng thời đánh giá tác động gây bệnh và tích cực của vi khuẩn H. pylori đối với các quá trình sống của con người.

Đưa ra các cuộc thảo luận xung quanh việc tiêu diệt tích cực vi khuẩn H. pylori khỏi quần thể người, điều quan trọng hơn bao giờ hết là đánh giá một cách nghiêm túc vai trò của nó trong hệ vi sinh vật.

2. Có sự cân bằng nhất định giữa tác động tiêu cực và tích cực của H. pylori đối với con người

Blaser đã tuyên bố niềm tin của mình rằng có sự cân bằng nhất định giữa tác động tiêu cực và tích cực của vi khuẩn helicobacter pylori đối với con người. Một số tác giả cho rằng H. pylori cho thấy khả năng gây bệnh của nó, bằng cách điều chỉnh sự biểu hiện của các gen khác nhau trong phạm vi được quy định bởi phản ứng của một sinh vật vĩ mô. Do đó, vi sinh vật tạo ra một hệ thống cân bằng được điều chỉnh tinh vi, kết quả là sự suy yếu dẫn đến phát triển một bệnh cụ thể với các dấu hiệu lâm sàng và tiên lượng nhất định.

Trong phần lớn các trường hợp, H. pylori kéo dài nhiễm trùng gây ra viêm dạ dày mãn tính, trong khi chỉ một số bệnh nhân phát triển bệnh loét dạ dày tá tràngung thư dạ dày. Vì lý do này, vi khuẩn được coi là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển và tái phát của bệnh loét dạ dày tá tràng và ung thư dạ dày. Do đó, H. pylori được xếp vào nhóm vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, sẽ đúng hơn nếu chỉ điều trị những cá nhân có nguy cơ cao mắc ung thư dạ dày hoặc thiết lập các chương trình phát hiện sớm ung thư dạ dày mà không thực hiện các chương trình diệt trừ lớn loại vi khuẩn có thể quan trọng này xâm nhập vào dạ dày của người trẻ tuổi.

vi khuẩn h. pylori
Vi khuẩn H. pylori kéo dài nhiễm trùng gây ra viêm dạ dày mãn tính

3. Không có nỗ lực phối hợp nào để loại trừ những sinh vật này khỏi quần thể con người

Malnick và cộng sự cho rằng không nên có những nỗ lực tương tự để diệt trừ H. pylori. Xem xét ngày càng nhiều các công bố về tác động tích cực của vi sinh vật đối với cơ thể con người, không thể nghi ngờ rằng H. pylori là một trong những vi khuẩn trong hệ vi sinh vật lành mạnh đối với phần lớn dân số. Có một mối quan hệ sinh học phức tạp giữa con người và vi khuẩn đồng loại mà bây giờ mới bắt đầu được hiểu. Để hiểu rõ hơn về vai trò tương hỗ của H. pylori trong các nhóm thuần tập có nguy cơ thấp mắc các bệnh liên quan đến H. pylori, cần có thêm các cuộc điều tra để ước tính định tính và định lượng lợi ích của nó ở người khỏe mạnh.

4. H. pylori và bệnh hen suyễn

Y văn những năm gần đây có đủ các công trình, kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch giữa sự tồn tại của H. pylori và việc phát hiện các trường hợp hen.
Chen và cộng sự báo cáo rằng việc phát hiện H. pylori ở bệnh nhân trẻ và trung niên (trung bình 25 tuổi) có tương quan nghịch không chỉ với bệnh hen suyễn mà còn với các bệnh dị ứng khác (viêm da, phát ban dị ứng và chàm). Các nhà nghiên cứu này đã tìm thấy mối quan hệ nghịch đảo giữa việc phát hiện H. pylori và bệnh hen suyễn khởi phát sớm (≤ 5 tuổi): OR = 0,58; KTC 95%: 0,38-0,88. Sự khác biệt về tình trạng hiện tại của các bệnh nhân cũng có ý nghĩa thống kê: Hen ít được quan sát thấy ở những bệnh nhân nhiễm H. pylori được phát hiện ( P = 0,03). Elias và cộng sự [cho thấy lần lượt 25% và 40% trẻ em có huyết thanh dương tính với IgG trong nhóm nghiên cứu và nhóm chứng ( P = 0,03) (độ tuổi của trẻ dao động từ 4,8 đến 17,3 tuổi). Điều thú vị là, sự nhạy cảm huyết thanh IgG với cagA có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh hen suyễn thấp [OR hiệu chỉnh 0,30 (KTC 95%: 0,10-0,87)]. Tuy nhiên, mô hình này không được tìm thấy đối với huyết thanh học âm tính cagA [OR đã điều chỉnh = 0,64 (KTC 95%: 0,30-1,37)]. Như trong một nghiên cứu trước đây, trẻ em huyết thanh dương tính với H. pylori có khả năng mắc bệnh hen suyễn thấp hơn so với trẻ em có huyết thanh âm tính [OR hiệu chỉnh = 0,29 (KTC 95%: 0,10-0,82)].

Các đồng nghiệp Hy Lạp phát hiện ra rằng tỷ lệ phát hiện H. pylori là 11,1% ở trẻ em 8,6 ± 4,5 tuổi có các triệu chứng hen suyễn, trong khi tỷ lệ này là 29,6% ở nhóm chứng cùng tuổi không có triệu chứng tắc nghẽn phế quản (OR = 0,1; KTC 95%. : 0,039-0,305; P = 0,026). Mối tương quan này đã được xác nhận bởi một số nghiên cứu trước đó.

vi khuẩn h. pylori
Có mối tương quan nghịch giữa sự tồn tại của H. pylori và việc phát hiện các trường hợp hen

5. Cơ chế hoạt động chống dị ứng của Helicobacter

Oertli và cộng sự đã nghiên cứu chi tiết và mô tả cơ chế hoạt động chống dị ứng của Helicobacter. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng khả năng dung nạp miễn dịch có thể đạt được do phản ứng liên tục của hệ thống miễn dịch đối với γ-glutamyl transpeptidase (GGT) và vacA của vi khuẩn. Đồng thời, có sự trưởng thành dần dần của các DC và sự tương tác có chủ đích hơn của chúng với các tế bào Treg, góp phần làm tăng khả năng tự kích hoạt có mục tiêu của nhóm tế bào lympho thành các kháng nguyên khác nhau. Các cơ chế như vậy cuối cùng dẫn đến sự dung nạp miễn dịch đối với các kháng nguyên lành tính (chất gây dị ứng). Cũng cần đặc biệt chú ý đến thực tế là vi khuẩn H. pylori isogenic các đột biến thiếu GGT hoặc vacA không có khả năng ngăn cản sự trưởng thành của DC và không thể thúc đẩy sự dung nạp DC như được đánh giá bằng cách cảm ứng các đặc tính Treg trong các tế bào T ngây thơ được nuôi cấy.

Pachathundikandi và cộng sự đã liên kết hiện tượng dung nạp với khả năng hoạt hóa của các kháng nguyên H. pylori để kích hoạt các thể viêm và kích thích sản xuất các cytokine, chẳng hạn như IL-1b và IL-18. Các tác giả cho rằng sự điều hòa cytokine như vậy hỗ trợ làm giảm quá trình tái hoạt động của hệ thống miễn dịch và do đó, ngăn ngừa sự phát triển của cả bệnh hen suyễn và bệnh viêm ruột.

6. H. pylori và các bệnh viêm ruột

Mối liên hệ tiêu cực giữa sự tồn tại của H. pylori và sự phát triển của bệnh viêm ruột (IBD) cũng đã được nghiên cứu trong một thời gian dài. Sự tồn tại của H. pylori có thể được coi là một yếu tố có lợi có thể chống lại sự phát triển của IBD. Một số phân tích tổng hợp lớn đã kết luận rằng nguy cơ IBD cao hơn ở bệnh nhân HPN. Wu và cộng sự cho thấy 24,9% bệnh nhân IBD bị nhiễm H. pylori so với 48,3% đối chứng. Tỷ lệ nguy cơ gộp chung đối với nhiễm H. pylori ở bệnh nhân IBD so với nhóm chứng là 0,48 (KTC 95%: 0,43-0,54; P <0,001). Rokkas và cộng sự thu được kết quả tương tự: 26,5% (KTC 95%: 25,2-27,8) bệnh nhân IBD dương tính với nhiễm H. pylori , so với 44,7% (43,3% -46,1%) của các cá nhân trong nhóm chứng. Trong y văn cũng có những nghiên cứu chứng minh việc tiệt trừ H. pylori dẫn đến phát sinh các tổn thương ở ruột. Tuy nhiên, cũng có sự mâu thuẫn trong dữ liệu tích lũy, vì các nghiên cứu hiện có liên kết nhiễm H. pylori với sự phát triển của ung thư đại trực tràng.

7. H. pylori và GERD (Viêm thực quản trào ngược)

Ngoài tác động của nhiễm H. pylori đến sự phát triển của các phản ứng dị ứng, việc phát hiện H. pylori ở bệnh nhân GERD đã được chú ý đáng kể. Vẫn còn một số điểm gây tranh cãi xung quanh câu hỏi liệu liệu pháp tiệt trừ ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển hoặc tiến triển của các triệu chứng GERD. Dữ liệu có sẵn khá mâu thuẫn và không đưa ra cái nhìn tổng thể về vấn đề. Trong các nghiên cứu của mình, một số tác giả chứng minh rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa bệnh nhân nhiễm H. pylori dương tính và HPN và sự phát triển của các triệu chứng GERD ở những bệnh nhân này. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu của mình, Bor đã đi đến kết luận rằng việc phát hiện H. pylori không ảnh hưởng đến sự phát triển của các triệu chứng GERD hoặc mức độ nghiêm trọng của quá trình bệnh. Tỷ lệ phát hiện H. pylori là 77,1% ở bệnh nhân không có triệu chứng so với 71,4% ở bệnh nhân GERD ( χ 2 = 2,6; P = 0,27).

Xue và cộng sự tin rằng liệu pháp tiệt trừ không ảnh hưởng đến các thay đổi niêm mạc thực quản. Do đó, không có mối liên quan với H. pylori. Trong nghiên cứu của mình, các nhà điều tra đã chia bệnh nhân GERD được xác nhận qua nội soi thành 2 nhóm (tương ứng là bệnh nhân nhiễm H. pylori và HPN). Các vi khuẩn H. pylori - Nhóm dương tính được điều trị tiệt trừ trước khi điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton (tiệt trừ 10 ngày, sau đó dùng esomeprazole 20 mg mỗi lần trong 46 ngày). Nhóm còn lại chỉ được điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton (esomeprazole 20 mg mỗi lần uống 2 lần trong 8 tuần). Kết quả, có 176 trường hợp dương tính với H. pylori (với 92 trường hợp tiệt trừ) và 180 trường hợp âm tính. Tỷ lệ lành bệnh ở nhóm dương tính với H. pylori và nhóm không dương tính với H. pylori lần lượt đạt 80,4% và 79,8% ( P = 0,911), với điểm số triệu chứng trào ngược là 0,22 và 0,14 ( P = 0,588) . Tỷ lệ chữa lành viêm thực quản ở nhóm không diệt trừ được H. pylori dương tính và H. pylori-Nhóm âm tương ứng là 79,8 và 82,2% ( P = 0,848); điểm số triệu chứng trào ngược là 0,14 và 0,21.

Đồng thời, các trường hợp trái ngược cũng đã được mô tả. Phân tích tổng hợp của Zhao và cộng sự đã chứng minh rằng liệu pháp tiệt trừ có thể dẫn đến GERD ăn mòn: OR để phát triển GERD ăn mòn sau khi tiệt trừ H. pylori là 1,67 (KTC 95%: 1,12-2,48; P = 0,01). Chung và cộng sự cho thấy mối quan hệ nghịch đảo rõ ràng giữa việc phát hiện H. pylori và GERD: Tỷ lệ nhiễm H. pylori ở các trường hợp bị viêm thực quản trào ngược thấp hơn so với nhóm chứng (38,4% so với 58,2%, P<0,001). Mức độ nghiêm trọng của viêm thực quản cũng tương quan nghịch với việc phát hiện H. pylori. Người ta dự đoán rằng hoạt động của H. pylori urease góp phần trung hòa độ axit trong dạ dày và do đó làm giảm nguy cơ mắc bệnh trào ngược axit.

vi khuẩn h. pylori
Người ta dự đoán rằng H. pylori urease góp phần làm giảm nguy cơ mắc bệnh trào ngược axit

8. Tác động tích cực có thể có của H. pylori đối với cơ thể con người

Có những nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực có thể có của H. pylori đối với cơ thể con người. Trong mối liên hệ này, H. pylori trong phần lớn người mang vi khuẩn có thể được cho là do vi khuẩn cư trú trong cơ thể người và tạo thành một quần thể vi khuẩn đồng loại sử dụng vật chủ cho hoạt động sống của chúng, nhưng không thể hiện đặc tính gây bệnh của chúng (như bền bỉ dưới sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống miễn dịch vật chủ).

Mối quan hệ như vậy giữa vi khuẩn đồng loại và con người được đặc trưng bởi đồng tiến hóa, đồng thích nghi và tương tác. Có tính đến khả năng chống chịu miễn dịch đối với H. pylori khi tồn tại lâu dài trong vật chủ, vi sinh vật cũng có thể được coi là cộng sinh.
Sự biểu hiện của các đặc tính gây bệnh của H. pylori, đặc trưng cho một tỷ lệ nhỏ dân số người có khuynh hướng di truyền phát triển các bệnh đường tiêu hóa, đòi hỏi phải đánh giá lại các dữ liệu hiện có về nhiễm H. pylori. Phương pháp “xét nghiệm và điều trị” đối với H. pylori hoàn toàn không giải quyết được vấn đề này. Có thể cách đúng hơn là cách tiếp cận cá nhân hóa bệnh nhân theo vùng lưu hành của H. pylori, sự hiện diện của các bệnh đường tiêu hóa giữa những người họ hàng, hoặc không thể loại trừ các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được. Do đó, cách tiếp cận đúng nhất sẽ được sử dụng để xem xét H. pylori kiên trì về vai trò tích cực có thể có của vi khuẩn trong cơ thể. Do đó, để thực hiện liệu pháp tiệt trừ cá thể hơn trong bối cảnh đánh giá các yếu tố nguy cơ bổ sung. Câu trả lời cho những cân nhắc như vậy cần được thu thập trong quá trình nghiên cứu sâu hơn.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 1900 232 389 (phím 0 để gọi Vinmec) hoặc đăng ký lịch khám tại viện TẠI ĐÂY. Nếu có nhu cầu tư vấn sức khỏe từ xa cùng bác sĩ Vinmec, quý khách đặt lịch tư vấn TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn

Tài liệu tham khảo

Reshetnyak VI, Burmistrov AI, Maev IV. Helicobacter pylori: Commensal, symbiont or pathogen? . World J Gastroenterol 2021; 27(7): 545-560 [PMID: 33642828 DOI: 10.3748/wjg.v27.i7.545]

248 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan