Trang chủ Bệnh Dậy thì sớm ở nữ: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
Dậy thì sớm ở nữ: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

Tổng quan bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Dậy thì sớm ở nữ hay còn được nhắc đến với tên dậy thì sớm bé gái là tình trạng độ tuổi dậy thì của các bé gái đến sớm hơn. Dậy thì sớm ở bé gái được xác định là dậy thì khởi phát trước 8 tuổi. Tuy nhiên, độ tuổi này chỉ mang tính tương đối và đang còn là vấn đề gây tranh cãi của nhiều chuyên gia. Một số chuyên gia cho rằng cần hạ độ tuổi nói trên, những người khác lại nói rằng làm như vậy sẽ khó xác định những trẻ nào cần được điều trị.

Xu hướng dậy thì sớm ngày càng đang tăng ở trẻ em nói chung trong đó dậy thì sớm ở nữ gập nhiều hơn nam gấp khoảng mười lần. Dậy thì sớm đang trở thành nỗi lo sợ với nhiều cha mẹ bởi những trẻ dậy thì sớm  thường bị thấp lùn khi trưởng thành cùng với nhiều hệ lụy nghiêm trọng khác. Khi trẻ lớn trước so với bạn bè, tâm lý của trẻ sẽ bất an, sợ hãi nên giảm tập trung học tập. Nhiều trẻ phát triển sớm nhưng kiến thức lại chưa đầy đủ nên việc đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục là khó tránh khỏi.

Nguyên nhân bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Hiện tượng dậy thì sớm ở bé gái đơn thuần là sự trưởng thành trước thời hạn. Hầu hết các trường hợp quá trình dậy thì vẫn diễn ra bình thường. Tuy nhiên, đôi khi chúng lại là biểu hiện của một số bệnh lý tiềm ẩn trong cơ thể, một số bệnh lý có thể là  gây ra biến đổi này là cơ thể trẻ tự có những bất thường về hệ thống các bộ phận phát dục gây ra sự rối loạn về mặt sinh dục, các rối loạn này chia ra làm hai nhóm chính:

Dậy thì trung ương: do nồng độ GnRH tăng cao dẫn đến sự bài tiết quá mức hormon sinh dục. Hầu hết các trường hợp dậy thì trung ương không xác định được nguyên nhân. Trong một vài trường hợp dậy thì sớm trung ương có thể do các nguyên nhân sau:

  • Khối u trong não hoặc tủy sống (u của hệ thống thần kinh trung ương).

  • Các bất thường bẩm sinh của não bộ, ví dụ như não úng thủy hoặc khối u lành tính (hamartoma).

  • Não hoặc tủy sống bị nhiễm xạ.

  • Tổn thương não hoặc tủy sống, thường là các tổ thương do tắc động cơ học.

  • Hội chứng McCune-Albright (McCune-Albright syndrome) đây một bệnh di truyền hiếm gặp ảnh hưởng đến xương và màu da và gây ra các vấn đề về nội tiết.

  • Suy giáp (hypothyroidism): trường hợp tuyến giáp không sản xuất đủ hooc-môn.

  • Tăng sản thượng thận bẩm sinh - một nhóm các rối loạn di truyền liên quan đến sản xuất hormone bất thường của tuyến thượng thận.

Dậy thì sớm ngoại vi: ít gặp hơn do nồng độ các hormone sinh dục tăng cao. Nhiều bệnh lý có thể dẫn đến việc gia tăng sản xuất estrogen gồm: khối u ở tuyến thượng thận hoặc trong tuyến yên tiết ra estrogen , u nang buồng trứng, khối u buồng trứng…

Các nguyên nhân khác:

  • Bé gái uống sữa bò và các sản phẩm từ sữa bò, ăn thịt heo, gà còn tồn dư hormone tăng trưởng, các chất này có thể gây dậy thì sớm. Hiện nay, ngành chăn nuôi công nghiệp thường lạm dụng các hormon tăng trưởng nhằm tăng năng suất. Trong các hormon tăng trưởng đó có estrogen hoặc các tiền chất có thể chuyển hóa thành estrogen, hoạt động như estrogen được gọi là xenoestrogen. Xenoestrogen xem như một lượng estrogen có trong cơ thể, estrogen này sẽ kích hoạt vùng dưới đồi và tuyến yên ở não tiết ra các hormon hướng dục, đánh thức buồng trứng làm việc và làm xuất hiện sớm những hiện tượng đặc trưng của giới tính nữ bắt đầu cho giai đoạn dậy thì ở trẻ.

  • Do môi trường: đã có những chứng cứ cho thấy bé gái dậy thì sớm do nhiễm các dẫn chất phtalat. Các dẫn chất này thường thấy trong đồ dùng bằng nha như: chai, can, túi, bao, gói, đầu núm vú, bình sữa, đồ chơi trẻ em... Khi sử dụng các sản phẩm trên, dẫn chất phtalat bị trôi ra và theo đường tiêu hóa vào trong cơ thể. Các bé gái bị nhiễm phtalat sẽ bị xáo trộn nội tiết và dậy thì sớm.

Triệu chứng bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Dậy thì bao gồm sự phát triển nhanh chóng của xương, cơ bắp làm thay đổi hình dạng, kích thước cơ thể và phát triển khả năng sinh sản của cơ thể.

Vậy dấu hiệu dậy thì sớm ở bé gái là gì? Nhiều người thường cho rằng dấu hiệu dậy thì ở nữ là hành kinh tuy nhiên thời điểm dậy thì không phải tính từ khi xuất hiện kinh nguyệt , mà tính từ khi cơ thể mọc lông mu, ngực, âm vật phát triển. Vì thế, nhiều bé gái có kinh nguyệt ở độ tuổi 12-13 nhưng đã có dấu hiệu mọc lông mu, phát triển ngực ở những năm trước đấy. Cá biệt có những bé gái khoảng 8 tuổi hoặc bé hơn đã dậy thì với các dấu hiệu phát dục như ngực to, có kinh nguyệt.

Sự tăng chiều cao, cân nặng có thể dễ dàng nhận thấy ở các trẻ dậy thì sớm. Trong suốt thời kỳ dậy thì xương liên tục trưởng thành. Ở trẻ dậy thì sớm, giai đoạn trẻ cao lên nhanh bắt đầu sớm và thường cũng kết thúc sớm hơn bình thường. Đầu tiên, trẻ lớn vọt so với các bạn cùng lứa, nhưng sau vài năm chúng ngừng phát triển và không thể đạt chiều cao tối đa của người trưởng thành. Chẩn đoán và can thiệp sớm có thể giúp đưa tốc độ tăng trưởng của trẻ trở lại nhịp điệu thích hợp.

Tuy nhiên với các trường hợp đặc biệt này cũng cần phân biệt dậy thì thực thụ với chứng vú phát triển sớm - một rối loạn lành tính trong đó ngực phát triển đơn thuần không kèm theo các dấu hiệu dậy thì khác.

Đối tượng nguy cơ bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Dậy thì sớm ở bé gái có thể xảy ra ở bất kỳ trẻ nào, tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố làm tăng nguy cơ dậy thì sớm là:

  • Béo phì: các trẻ thừa cân, béo phì có nguy cơ dậy thì sớm cao hơn.

  • Tiếp xúc với các sản phẩm có hooc-môn sinh dục: thường gặp là các loại sữa có hormone tăng trưởng tồn đọng, một số thuốc của người lớn, một số kem, mỡ bôi.

  • Có một số bệnh liên quan đến nội tiết. Dậy thì sớm có thể là một biến chứng của hội chứng McCune-Albright hoặc tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh. Trong một số ít trường hợp, dậy thì sớm cũng có thể liên quan đến hội chứng suy giáp.

  • Các trường hợp có sử dụng các tia bức xạ lên hệ thống thần kinh trung ương: thường gặp trong điều trị xạ trị khối u trong não, bệnh bạch cầu và một số bệnh khác cũng làm tăng nguy cơ dậy thì sớm.

Phòng ngừa bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Dậy thì sớm không phải lúc nào cũng phòng được. thực hiện các biện pháp sau có thể làm giảm nguy cơ dậy thì sớm ở bé gái:

  • Tuyệt đối không sử dụng các thuốc, sản phẩm chức năng có liên quan đến sức khỏe sinh sản của người lớn cho trẻ.

  • Không sử dụng các loại sữa, thực phẩm có lượng hooc môn cao.

  • Cân bằng chế độ dinh dưỡng, tránh thừa cân, béo phì.

  • Khám và tuân thủ các điều trị của thầy thuốc trong các trường hợp mắc các bệnh lý về nội tiết.

  • Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với các thiết bị điện tử đặc biệt là các máy móc phát xạ hay máy có từ trường cao.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Để chẩn đoán dậy thì sớm ở bé gái dựa vào các yếu tố sau:

  • Tổng hợp các tiền sử bệnh của bé và gia đình.

  • Khám lâm sàng

  • Chỉ định các xét nghiệm máu để đo nồng độ các hormone

  • Chụp X-quang tay và cổ tay cũng rất quan trọng để chẩn đoán dậy thì sớm. Những tia X này có thể giúp bác sĩ xác định tuổi xương của các bé gái, điều này cho thấy xương có phát triển quá nhanh không.

Chẩn đoán xác định loại dậy thì sớm

Bác sĩ sẽ xác định dậy thì sớm trung ương hay ngoại vi. Để phân biệt, bác sĩ sẽ thực hiện một thử nghiệm gọi là test kích thích giải phóng hooc-môn GnRH (gonadotropin-releasing hormone (GnRH) stimulation test)

  • Nếu trẻ dậy thì sớm trung ương lượng hormone đo được sẽ tăng so với bình thường.

  • Nếu trẻ dậy thì sớm ngoại vi lượng hormone sẽ có giá trị bình thường.

  • Xét nghiệm bổ sung

  • Chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não: MRI sọ não thường được thực hiện cho trẻ em dậy thì sớm ở trung tâm để phát hiện các bất thường về não gây ra sự bắt đầu dậy thì sớm.

  • Xét nghiệm tuyến giáp. Bác sĩ cũng có thể kiểm tra tuyến giáp của các bé  nếu bé có bất kỳ dấu hiệu nào về giảm chức năng tuyến giáp (suy giáp), chẳng hạn như mệt mỏi, uể oải, tăng nhạy cảm với lạnh, táo bón, giảm các hoạt động ở trường hoặc da khô, nhợt nhạt.

  • Siêu âm để kiểm tra u nang buồng trứng hoặc các khối u bất thường khác.

Các biện pháp điều trị bệnh Dậy thì sớm ở nữ

Trong điều trị dậy thì sớm ở bé gái mục tiêu chính là giúp cho sự phát triển chiều cao của trẻ diễn ra bình thường.

Điều trị dậy thì sớm phụ thuộc vào nguyên nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, không xác định được nguyên nhân gây dậy thì sớm. Trong trường hợp này, bệnh nhi có thể không cần điều trị tùy thuộc vào độ tuổi của chúng và tốc độ dậy thì nhanh như thế nào. Bác sĩ có thể đề nghị theo dõi trong vài tháng để xem bé đang phát triển như thế nào.

Điều trị dậy thì sớm trung ương

Điều trị bằng thuốc: hầu hết trẻ em dậy thì sớm trung ương không có tình trạng bệnh lý tiềm ẩn, có thể được điều trị hiệu quả bằng thuốc. Phương pháp điều trị bằng thuốc còn được gọi là liệu pháp  GnRH thay thế, thường bao gồm tiêm thuốc hàng tháng, chẳng hạn như leuprolide acetate (Lupron Depot) hoặc triptorelin (Trelstar, Triptodur Kit), có tác dụng làm chậm sự phát triển. Một số thuốc có công thức mới hơn có thể được đưa ra để tăng thời gian tác dụng lên lâu hơn. Trẻ sẽ được dùng thuốc cho đến khi đến tuổi dậy thì bình thường. Trung bình, 16 tháng sau khi bé ngừng dùng thuốc, quá trình dậy thì lại bắt đầu.

Cấy ghép histrelin (Vantas) là thuốc có tác dụng kéo dài đến một năm. Điều trị này có hiệu quả đối với dậy thì sớm ở trung ương mà không gây đau đớn và bất tiện khi tiêm thuốc thường xuyên, nhưng nó được thực hiện như một tiểu phẫu. Cấy ghép được đặt dưới da của trẻ thông qua một vết mổ ở mặt bên trong cánh tay. Sau một năm, cấy ghép được loại bỏ và nếu cần thiết, thay thế bằng một cấy ghép mới.

Điều trị nguyên nhân gây ra dậy thì sớm cho trẻ: Nếu có khối u gây ra dậy thì sớm thì phải loại bỏ khối u đó.

Dậy thì sớm ở bé gái là bệnh lý có thể điều trị được, có thể cải thiện chiều cao cho trẻ và hạn chế được có hệ lụy của dậy thì sớm, vì vậy các cha mẹ cần quan tâm, chăm sóc trẻ, chia sẻ cùng trẻ để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời.

 

 

Xem thêm:

Câu chuyện khách hàng Sống khỏe Sức khỏe tổng hợp