......

Công dụng thuốc Epibra

Thuốc Epibra là một loại thuốc gây độc tế bào được sử dụng trong điều trị nhiều loại ung thư như: ung thư vú, ung thư phổi tế bào nhỏ hay dùng tại chỗ để điều trị ung thư bàng quang... Cùng tìm hiểu những thông tin về thuốc qua bài viết dưới đây.

1. Thuốc Epibra có tác dụng gì?

Thuốc Epibra có thành phần chính là Epirubicin hydrochloride 10mg/5ml, bào chế dạng dung dịch tiêm truyền.

Cơ chế tác dụng của Epirubicin hydrochloride có liên quan với khả năng gắn DNA. Trên các nghiên cứu mẫu cấy tế bào cho thấy thuốc này thấm nhanh vào tế bào, định vị trong nhân tế bào và có tác dụng ức chế tổng hợp acid nucleic và ức chế sự phân chia của tế bào.

Từ đó, thuốc được ứng dụng như một loại điều trị ung thư, do ức chế sự phát triển của tế bào.

2. Chỉ định và chống chỉ định của thuốc Epibra

Chỉ định:

Thuốc Epibra được dùng trong các trường hợp sau:

  • Epirubicin được sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư bao gồm: Ung thư vú, ung thư buồng trứng đang tiến triển, ung thư dạ dày, ung thư phổi tế bào nhỏ.
  • Khi dùng bằng đường bàng quang, epirubicin đã được chứng minh có lợi ích trong điều trị: Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp thể nhú ở bàng quang, ung thư biểu mô tại chỗ của bàng quang, dự phòng tái phát ung thư bề mặt bàng quang sau khi đã tiến hành phẫu thuật cắt qua niệu đạo.

Chống chỉ định:

Không dùng thuốc Epibra trong những trường hợp sau:

  • Người bệnh quá mẫn với epirubicin, với các anthracyclin, các anthracenedion hoặc quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của chế phẩm.
  • Phụ nữ có thai và đang cho con bú.
  • Người bệnh có số lượng bạch cầu trung tính dưới 1,5 x G/lít (1500/mm3).
  • Sử dụng đường tĩnh mạch: không dùng khi suy tủy kéo dài, suy gan nặng, suy cơ tim nặng, nhồi máu cơ tim gần đây, loạn nhịp tim nặng, điều trị trước đó với liều tích lũy tối đa của thuốc epirubicin và/hoặc các anthracyclin và anthracenedion khác, bệnh nhân đang bị nhiễm trùng toàn thân cấp tính, đau thắt ngực thể không ổn định, bệnh về cơ tim, bệnh tim do viêm cấp tính.
  • Sử dụng đường bàng quang: Nhiễm trùng đường tiết niệu; Khối u xâm lấn xâm nhập vào bàng quang; Các vấn đề có liên quan thông đường tiểu; Viêm bàng quang; Tiểu ra máu; Bàng quang bị co nhỏ; Thể tích nước tiểu còn lại trong bàng quang quá lớn.

3. Liều lượng và cách dùng thuốc Epibra

3.1 Cách dùng

Epirubicin chỉ được dùng theo đường tiêm truyền tĩnh mạch hoặc dùng bằng đường truyền bàng quang. Không được dùng thuốc này để tiêm bắp hoặc dưới da vì kích ứng mô rất mạnh.

Chỉ có những người đã được huấn luyện chuyên môn đầy đủ mới được phép pha dịch truyền và việc pha truyền này cần phải tiến hành trong điều kiện vô khuẩn.

  • Không nên tiêm trực tiếp thuốc vào tĩnh mạch mà phải truyền vào tĩnh mạch với dung dịch thuốc đã pha loãng trong các dung dịch như NaCl 0,9% hoặc dextrose 5%, thời gian tiêm là từ 3 đến 5 phút. Nếu truyền tĩnh mạch thì thời gian truyền có thể tới 30 phút.
  • Tránh tiêm vào các tĩnh mạch nhỏ hoặc tiêm nhiều lần vào cùng một tĩnh mạch, vì điều này tĩnh mạch dễ bị xơ cứng. Phải hết sức tránh, không được để thuốc thoát khỏi mạch. Nếu thấy nổi ban đỏ dọc theo đường tĩnh mạch được truyền hoặc cơn bốc hỏa ở mặt thì có thể là do truyền quá nhanh và có thể bị viêm tĩnh mạch tại chỗ hoặc viêm tắc tĩnh mạch. Thuốc có thể thoát mạch mà
  • Để đảm bảo không bị nhiễm vi sinh vật, thuốc cần phải được sử dụng ngay sau khi pha. Nếu chưa dùng ngay, phải bảo quản dung dịch sau pha ở nhiệt độ 2 – 8 độ C trong thời gian không quá 12 giờ.

3.2 Liều lượng

Dùng bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch:

Nếu dùng epirubicin một mình thì liều thường dùng là 60 – 90 mg/m2 tiêm một lần, lặp lại liều dùng này sau sau 3 tuần. Để điều trị ung thư giai đoạn cuối, có thể dùng 12,5 – 25 mg/m2, tuần 1 lần.

  • Điều trị ung thư vú sau khi phẫu thuật có hạch nách: Liều ban đầu được khuyên dùng là 100 đến 120 mg/m2 được tiêm vào ngày đầu của chu kỳ hoặc chia làm 2 liều đều nhau tiêm vào ngày 1 và ngày 8 của mỗi chu kỳ. Liều này được lặp lại cách nhau 3 – 4 tuần. Sau chu kỳ điều trị đầu tiên phải xem xét việc chỉnh liều dựa vào mức độ độc tính lên huyết học và ngoài huyết học, bằng cách xét nghiệm chỉ số tiểu cầu và bạch cầu cầu trung tính hoặc xác định mức độ bị nhiễm độc.
  • Điều trị các khối u khác: Liều dùng của epirubicin thường được sử dụng đơn liều hay kết hợp với hóa trị liệu khác với liều.

Đường dùng truyền trực tiếp vào bàng quang:

  • Điều trị ung thư bàng quang: Truyền nhỏ giọt thuốc vào bàng quang; mỗi tuần truyền 50 mg trong 50ml dung dịch NaCl 0,9% hoặc nước cất để được dung dịch có nồng độ 0,1%, dùng trong vòng 8 tuần. Nếu có dấu hiệu viêm bàng quang do hóa chất thì nên giảm liều mỗi tuần xuống còn 30 mg trong 50 ml. Với trường hợp carcinom tại chỗ, nếu dung nạp được có thể tăng liều lên tới 80 mg trong 50ml mỗi tuần. Để tránh tái phát ở những bệnh nhân đã cắt bỏ khối u qua niệu đạo dùng liều 50 mg/tuần trong 4 tuần; sau đó dùng 50mg mỗi tháng 1 lần trong 11 tháng. Sau khi truyền phải giữ các dung dịch ở trong bàng quang 1 giờ.

Đối với người bị suy tủy (do điều trị mạnh hoặc có từ trước, hoặc do ung thư tủy thể thâm nhiễm): Giảm liều dùng chu kỳ ban đầu còn 75 – 90 mg/m2.

Suy gan: Phải giảm liều khi người bệnh có suy gan.

  • Nếu nồng độ bilirubin huyết thanh từ 1,2 – 3 mg/100 ml, hoặc nồng độ AST gấp 2 – 4 lần giới hạn trên của bình thường cần phải giảm 50% liều epirubicin ban đầu được khuyến cáo.
  • Nếu bilirubin > 3 mg/100 ml hoặc nồng độ AST gấp trên 4 lần giới hạn trên của bình thường: Chỉ dùng 25% liều ban đầu.
  • Nếu suy gan nặng: Không được dùng epirubicin.

Suy thận nặng (nồng độ creatinin huyết thanh > 5 mg/100 ml): Có thể cần phải giảm liều.

4. Tác dụng phụ của thuốc Epibra

Khi dùng các thuốc gây độc tế bào như Epibra bạn có thể gặp phải các tác dụng phụ như:

Các độc tính tim là nguy cơ cao có thể xảy ra khi điều trị với anthracyclin, có thể biểu hiện sớm hoặc muộn.

  • Các biến cố cấp tính: Chủ yếu là nhịp nhanh xoang hay các bất ở thường điện tâm đồ. Nhịp tim nhanh bao gồm cả tình trạng ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, nhịp tim chậm cũng như block nhánh và block nhĩ thất đã được báo cáo. Những triệu chứng này hiếm khi quan trọng về mặt lâm sàng và thông thường xuất hiện thoáng qua, có thể hồi phục và không cần ngừng điều trị với epirubicin.
  • Các biến cố muộn: Độc tính tim thường có thể xuất hiện muộn trong quá trình điều trị hoặc trong vòng 2 – 3 tháng sau khi kết thúc điều trị. Những biến cố gồm bệnh cơ tim muộn với biểu hiện như giảm phân suất tống máu thất trái; các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim sung huyết như nhịp tim nhanh, khó thở, phù phổi, phù tư thế, tim to, gan to, thiểu niệu, gây ra tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi. Suy tim sung huyết có thể gây nguy hiểm tính mạng là dạng bệnh cơ tim nghiêm trọng nhất do sử dụng anthracyclin.

Một số phản ứng phụ khác cũng xảy ra gồm:

  • Rụng tóc, thường có thể hồi phục, trong khoảng 60-90% các trường hợp.
  • Viêm niêm mạc cũng có thể xảy ra sau 5-10 ngày sau khi bắt đầu điều trị, thường là viêm miệng với loét đau, chủ yếu dọc theo phần niêm mạc lưỡi và dưới lưỡi.
  • Rối loạn đường tiêu hoá có thể gặp như buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Buồn nôn và nôn nghiêm trọng có thể xảy ra.
  • Tăng thân nhiệt.
  • Thay đổi chức năng gan, biểu hiện bằng việc tăng men gan, tăng bilirubin.
  • Tương tự như các loại thuốc gây độc tế bào khác, viêm tĩnh mạch huyết khối hoặc thuyên tắc huyết khối, kể cả thuyên tắc phổi gây ra tử vong đã được ghi nhận khi sử dụng epirubicin.
  • Nhiễm khuẩn hô hấp, tiết niệu có thể xảy ra khi dùng thuốc.
  • Các phản ứng tại vị trí truyền: Xơ cứng tĩnh mạch có thể xảy ra khi truyền vào tĩnh mạch nhỏ hoặc cần phải truyền nhiều lần vào một tĩnh mạch. Tuân thủ việc khuyến cáo về cách dùng thuốc đúng nhất có thể giúp giảm thiểu nguy cơ viêm tĩnh mạch hay viêm tĩnh mạch huyết khối tại vị trí truyền.
  • Đối với dùng đường qua bàng quang gây ra viêm bàng quang, nhiễm khuẩn tại bàng quang...

Khi dùng thuốc và sau khi sử dụng thuốc này nếu như gặp phải bất kỳ tác dụng phụ nào cần báo ngay với bác sĩ để được tư vấn.

5. Những điều cần chú ý khi dùng thuốc Epibra

  • Thuốc Epibra phải được các thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm về dùng thuốc độc tế bào chỉ định và giám sát điều trị.
  • Trước khi bắt đầu điều trị với thuốc epirubicin, bệnh nhân cần hồi phục các độc tính cấp như viêm niêm mạc, viêm miệng, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và nhiễm khuẩn do việc điều trị với các thuốc gây độc tế bào trước đó.
  • Trong khi điều trị người bệnh cần được theo dõi chức năng tim cần được đánh giá trước khi bệnh nhân được điều trị với Epibra và phải được theo dõi trong suốt quá trình điều trị để phát hiện giúp giảm nguy cơ xảy ra suy tim nặng. Do nguy cơ gây ra bệnh cơ tim, cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng thuốc epirubicin với liều cao hơn liều tích lũy là 900 mg/m2.
  • Độc tính tim có thể tăng lên khi kết hợp với trastuzumab: Suy tim đã được quan sát ở những bệnh nhân điều trị đơn trị liệu với thuốc trastuzumab hoặc kết hợp với dẫn chất anthracyclin như epirubicin. Suy tim có thể xuất hiện ở mức độ từ trung bình đến nặng và có thể dẫn đến tử vong.
  • Khi dùng thuốc Epirubicin có tác dụng gây ra buồn nôn và nôn. Thuốc chống nôn có thể được dùng để giảm nôn và buồn nôn. Nên xem xét sử dụng dự phòng các thuốc chống nôn trước khi điều trị với epirubicin.
  • Do đường thải trừ chính của epirubicin là qua hệ gan mật. Cần đánh giá nồng độ trong huyết thanh của bilirubin toàn phần và AST trước, trong quá trình điều trị với epirubicin.
  • Cần kiểm tra nồng độ creatinin huyết thanh trước và trong khi dùng thuốc Epibra. Cần hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân có nồng độ creatinin huyết thanh > 5 mg/dL.
  • Thoát mạch: Việc thoát mạch dung dịch thuốc sau khi truyền có thể gây ra đau tại chỗ, tổn thương mô nặng và hoại tử. Nếu các dấu hiệu hoặc triệu chứng thoát mạch xảy ra trong quá trình mà bạn được truyền thuốc epirubicin, cần ngừng truyền ngay lập tức. Các tác dụng phụ của thoát mạch có thể được ngăn chặn hoặc giảm bằng các điều trị đặc hiệu ngay lập tức.
  • Hội chứng ly giải khối u: Thuốc Epirubicin có thể gây tăng acid uric trong máu do ly giải các tế bào ung thư nhanh chóng. Các bất thường chuyển hóa khác cũng có thể xảy ra. Mặc dù không phải là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân nhưng cần xem xét khả năng xảy ra hội chứng ly giải khối u ở những bệnh nhân nhạy cảm. Để theo dõi cần kiểm tra nồng độ acid uric, kali, canxi phosphat và creatinin trong máu sau khi bắt đầu tiến hành điều trị. Bổ sung nước, kiềm hóa nước tiểu và dự phòng bằng thuốc allopurinol có thể giúp giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến chứng của hội chứng ly giải khối u.

Trên đây là những thông tin về thuốc Epibra, thuốc gây độc tế bào chỉ được dùng khi được chỉ định và theo dõi sát bởi các bác sĩ có kinh nghiệm. Nếu có bất thường xảy ra bạn cần nói ngay với bác sĩ.

6 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan