......

Các nguy cơ tiềm ẩn gây táo bón trong cộng đồng

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Có nhiều yếu tố được cho là nguyên nhân dẫn đến táo bón, tuy nhiên bằng chứng thực tế về những mối liên quan này rất khó xác định. Các nguy cơ tiềm ẩn gây táo bón này có thể được phân loại thành các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học, lối sống và sức khỏe.

1. Táo bón là một vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến

Có nhiều yếu tố được cho là nguyên nhân gây ra táo bón, tuy nhiên bằng chứng thực tế về những mối liên quan này rất khó xác định. Các nguy cơ tiềm ẩn gây táo bón này có thể được phân loại thành các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học, lối sống và sức khỏe.
Không rõ hầu hết các yếu tố có liên quan đến táo bón hay không vì ngoài giới tính, hoạt động thể chất, vị trí dân cư và sức khỏe... thì không có đủ bằng chứng hoặc dữ liệu chứng minh. Do vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn ở người trưởng thành sống trong cộng đồng, để hiểu được tầm quan trọng của từng yếu tố nguy cơ tiềm ẩn trong táo bón. Một loạt các yếu tố cần được điều tra trong cùng một mẫu dân số, bằng cách sử dụng phân tích đa biến để xác định yếu tố nào thực sự có liên quan đến táo bón trong cộng đồng.

2. Các nguy cơ tiềm ẩn gây táo bón trong cộng đồng

Sau 1 quá trình khảo sát và phân tích, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến táo bón bao gồm:

  • Các yếu tố địa hình và kinh tế xã hội;
  • Các yếu tố cuộc sống và hành vi;
  • Các yếu tố liên quan đến sức khoẻ.

Đây là đánh giá toàn diện đầu tiên về các nghiên cứu dịch tễ học của các quần thể cộng đồng. Tổng quan về các nghiên cứu kéo dài 30 năm này đã xác định nhiều yếu tố được coi là có khả năng liên quan đến táo bón ở người lớn sống trong cộng đồng.
Tuy nhiên, khi đánh giá kết quả của các nghiên cứu được xem xét, rõ ràng là không có đủ bằng chứng về mối liên quan của hầu hết các yếu tố với táo bón. Về yếu tố nhân khẩu học, giới tính nữ có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ táo bón gia tăng. Có nhiều cách giải thích khác nhau cho vấn đề này, chẳng hạn như ảnh hưởng của hormone sinh dục. Không có bằng chứng rõ ràng cho thấy tuổi càng cao có liên quan đến việc tăng táo bón. Trái với suy nghĩ rộng rãi, nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ táo bón ở các nhóm tuổi trẻ cao hơn. Trong khi tác động của tuổi tác ngày càng tăng có thể được giải thích bằng những thay đổi về giải phẫu hoặc thuốc, không có lời giải thích rõ ràng về tỷ lệ táo bón cao ở người trẻ tuổi.

Bên cạnh đó, vị trí địa lý trong một quốc gia có thể liên quan đến táo bón và có những dấu hiệu cho thấy sắc tộc cũng có thể liên quan, tuy nhiên có những dữ liệu mâu thuẫn về tình trạng hôn nhân. Dữ liệu về các yếu tố kinh tế xã hội như mức thu nhập, trình độ học vấn và tình trạng công việc là mâu thuẫn và có vẻ khác nhau theo từng quốc gia. Tương tự, dữ liệu cho các yếu tố lối sống cũng hỗn hợp. Trong khi có bằng chứng cho thấy mức độ hoạt động thể chất thấp có liên quan đến nguyên nhân táo bón, chỉ có bằng chứng hạn chế về lượng chất lỏng hấp thụ và không có bằng chứng về lượng chất xơ thấp. Tác động của hút thuốc, rượu và cà phê đối với táo bón là không rõ ràng và không thể được xác nhận trong bài đánh giá này. Tuy nhiên, rõ ràng là một số yếu tố sức khỏe có liên quan đến táo bón. Điều này bao gồm sức khỏe tự đánh giá thấp, một số thủ thuật phẫu thuật, một số loại thuốc và các tình trạng y tế khác nhau bao gồm trầm cảm, bệnh trĩ, bệnh thần kinh và một số rối loạn tiêu hóa, tim mạch và cơ xương khớp.

táo bón
Một số yếu tố sức khỏe có liên quan đến táo bón.

3. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá toàn diện từng yếu tố

Có nhiều biến thể và phức tạp liên quan đến các nghiên cứu dịch tễ học được thực hiện cho đến nay. Thứ nhất, sự khác biệt về mẫu dân số, thiết kế nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích có thể góp phần vào các kết quả khác nhau thu được. Ngoài ra, kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt trong định nghĩa táo bón - các tiêu chí khác nhau được sử dụng để xác định táo bón mãn tính. Tương tự, các tiêu chí khác nhau được sử dụng để xác định các tình trạng bệnh đi kèm sẽ ảnh hưởng đến kết quả. Khi xem xét các tình trạng bệnh đi kèm, có thể các loại thuốc đang được sử dụng để điều trị có thể gây ra, toàn bộ hoặc một phần, gây ra táo bón. Điều này chắc chắn có thể xảy ra trong các tình trạng như trầm cảm, rối loạn cơ xương và các bệnh tim mạch thì táo bón là một tác dụng phụ của nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị.

Bất kỳ sự gia tăng tỷ lệ táo bón theo tuổi có thể liên quan nhiều hơn đến các nguyên nhân thứ phát như các bệnh lý đi kèm và thuốc. Hầu hết các quy trình quản lý táo bón đều khuyến nghị tăng cường chất xơ, lượng chất lỏng và hoạt động thể chất. Có khả năng là bất kỳ nghiên cứu nào cho thấy mức độ cao của các yếu tố này có liên quan đến tỷ lệ táo bón cao có thể chỉ ra rằng đây là hậu quả của việc kiểm soát táo bón hơn là các yếu tố nguy cơ gây táo bón.
Đánh giá toàn diện và đương đại này về các nghiên cứu được thực hiện trong môi trường cộng đồng mở rộng công việc trước đó đã đặt câu hỏi về sự tồn tại của bằng chứng thực tế về các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn của táo bón.

Ngoài giới tính nữ, vị trí dân cư, hoạt động thể chất và một số yếu tố liên quan đến sức khỏe, vẫn chưa rõ liệu hầu hết các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khác có phải là nguyên nhân táo bón hay không vì không đủ bằng chứng hoặc dữ liệu mâu thuẫn. Theo quan điểm của những phức tạp liên quan đến nghiên cứu trước đây, điều cần thiết là nghiên cứu sâu hơn được thực hiện ở những người trưởng thành sống trong cộng đồng để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của từng yếu tố nguy cơ gây táo bón. Khuyến nghị rằng một loạt các yếu tố được điều tra trong cùng một mẫu dân số bằng cách sử dụng phân tích đa biến để phát hiện ra những yếu tố có liên quan đến bất kỳ chứng táo bón hoặc táo bón mãn tính nào trong cộng đồng.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo:

Werth BL, Christopher SA. Potential risk factors for constipation in the community. World J Gastroenterol 2021; 27(21): 2795-2817 [DOI: 10.3748/wjg.v27.i21.2795]

64 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan