......

Ung thư đại trực tràng tấn công những người trẻ tuổi nhiều hơn

Bài được viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Bác sĩ nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Ung thư đại trực tràng là ung thư phổ đứng hàng thứ ba ở nam và nữ tại Mỹ. Đây là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong do ung thư. Và theo nhiều số liệu nghiên cứu, tỉ lệ người trẻ tuổi có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng đang ngày càng tăng.

1. Ung thư đại trực tràng là gì?

Ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư bắt đầu từ ruột kết (ruột già) hoặc trực tràng. Cả hai cơ quan này đều nằm ở phần dưới của hệ tiêu hóa. Trực tràng nằm ở cuối ruột kết.

Các Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) ước tính rằng có khoảng 1 trong 23 người đàn ông và 1 trong 25 phụ nữ sẽ phát triển ung thư đại trực tràng trong cuộc đời của họ.

Bác sĩ có thể sử dụng phân tích giai đoạn như một hướng dẫn để tìm ra mức độ di căn của ung thư. Quan trọng là bác sĩ của bạn phải biết giai đoạn tiến triển của ung thư để có thể đưa ra kế hoạch điều trị tốt nhất cho bạn và ước tính được khả năng điều trị trong tương lai.

Ung thư đại trực tràng giai đoạn 0 là giai đoạn sớm nhất và giai đoạn 4 là giai đoạn nặng nhất:

  • Giai đoạn 0: Còn được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Trong giai đoạn này, các tế bào bất thường chỉ nằm trong lớp niêm mạc bên trong của đại tràng hoặc trực tràng.
  • Giai đoạn 1: Ung thư đã xâm nhập vào lớp niêm mạc của đại tràng hoặc trực tràng và có thể đã phát triển vào lớp cơ. Nó chưa lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể.
  • Giai đoạn 2: Ung thư đã lan đến thành đại tràng hoặc trực tràng hoặc xuyên qua thành đến các mô lân cận nhưng không ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết.
  • Giai đoạn 3: Ung thư đã di chuyển đến các hạch bạch huyết nhưng không di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể.
  • Giai đoạn 4: Ung thư đã lan đến các cơ quan ở xa khác, chẳng hạn như gan hoặc phổi.

2. Ung thư đại trực tràng tấn công những người trẻ tuổi nhiều hơn

Các bác sĩ đang gặp nhiều trường hợp ung thư đại trực tràng trước 50 tuổi, độ tuổi được khuyến nghị để bắt đầu tầm soát.

Ung thư ruột kết và trực tràng thường là những bệnh mà bác sĩ tập trung vào những bệnh nhân trên 50 tuổi nhưng những xu hướng gần đây cho thấy sự gia tăng những bệnh ung thư đó ở người trẻ ở độ tuổi 20. Theo các chuyên gia, có rất nhiều yếu tố dẫn tới sự gia tăng này.

Tiến sĩ Allen Kamrava, một bác sĩ phẫu thuật đại trực tràng tư nhân ở Los Angeles cho biết, việc nội soi chảy máu trực tràng hiện nay dễ dàng hơn nhiều so với những năm trước. Những bệnh nhân bị chảy máu trực tràng, đặc biệt là những người dưới 40 tuổi, thường là bị bệnh trĩ chứ không phải ung thư trực tràng. Tuy nhiên, đó cũng là lúc bác sĩ nên nghĩ tới khả năng xấu hơn.

Kamrava nói với Healthline: “Điều tồi tệ nhất có thể làm đối một bệnh nhân trẻ là chẩn đoán ung thư của họ muộn. Tôi đã thấy một số bệnh nhân trẻ - 40 tuổi hoặc trẻ hơn - có biểu hiện như chảy máu do trĩ và được điều trị giống như điều trị trĩ. Cuối cùng, khi máu không ngừng chảy, họ phải nội soi và phát hiện ung thư đã tiến triển quá nặng”.

người trẻ mắc ung thư đại tràng
Các bác sĩ đang gặp nhiều trường hợp ung thư đại trực tràng trước 50 tuổi.

3. Rủi ro cao hơn nhưng tỷ lệ mắc vẫn thấp

Một đánh giá về dữ liệu 35 năm về ung thư ruột kết và trực tràng ở Hoa Kỳ cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm kể từ năm 1998. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân từ 20 đến 34 tuổi, tỷ lệ ung thư đại trực tràng đang tăng lên.

Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí JAMA Surgery, nếu xu hướng trên vẫn tiếp tục phát triển, vào năm 2030, tỷ lệ ung thư ruột kết sẽ tăng 90% và ung thư trực tràng là 124% ở những người từ 20 đến 34 tuổi. Đối với những người từ 35 đến 49 tuổi, tỷ lệ này dự kiến ​​sẽ tăng lên tới 46%.

Mặc dù tỷ lệ phần trăm là đáng báo động nhưng thực tế, con số vẫn đang ở mức thấp. Trong số các trường hợp được chẩn đoán trong giai đoạn nghiên cứu của JAMA, chỉ 1% trong số đó xảy ra ở những người dưới 35 tuổi, và 6.8% ở độ tuổi từ 35 đến 49. Điều đó có nghĩa là khoảng 9 trong số 10 người được chẩn đoán từ 50 tuổi trở lên.

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng ở người trẻ. Nó khiến một số chuyên gia đặt câu hỏi, khi nào nên bắt đầu tầm soát định kỳ cho những người có yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng.

4. Một số yếu tố rủi ro thúc đẩy vai trò của sàng lọc sớm

Chế độ ăn uống và lối sống điển hình của người Mỹ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột kết hoặc trực tràng. Chẳng hạn như chế độ ăn nhiều thịt đỏ hoặc thịt chế biến và thực phẩm chiên nhưng ít rau. Béo phì, lười vận động, hút thuốc và sử dụng nhiều rượu cũng là những yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng và các loại ung thư khác.

Những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư đại trực tràng và thường sẽ bị bệnh nặng hơn sau khi được chẩn đoán.

Tuổi tác không phải là yếu tố duy nhất không thể kiểm soát được. Người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ ung thư đại trực tràng cao nhất trong tất cả các nhóm chủng tộc ở Hoa Kỳ và không rõ lý do tại sao. Điều này đã khiến các nhóm như Hiệp hội Nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ đề xuất rằng, người Mỹ gốc Phi nên được sàng lọc bắt đầu từ 45 tuổi chứ không phải 50.

Thịt đỏ
Ăn nhiều thịt đỏ hoặc thịt chế biến và thực phẩm chiên có thể dẫn đến ung thư đại trực tràng.

5. Di truyền là một trong những nguy cơ khiến người trẻ mắc ung thư đại trực tràng nhiều hơn

Bên cạnh chủng tộc, di truyền đóng một vai trò lớn trong các trường hợp ung thư đại trực tràng ở bệnh nhân trẻ tuổi.

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, những người có tiền sử cá nhân mắc bệnh viêm ruột, tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng hoặc các khiếm khuyết gen di truyền như bệnh đa polyp tuyến gia đình thì có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao hơn.

“Tất cả chúng tôi đều đã thấy ung thư ruột kết ở những bệnh nhân trong độ tuổi trẻ từ 20 đến 40 tuổi. Nói chung, chúng tôi thấy ung thư ruột kết ở những bệnh nhân trẻ có tính chất gia đình nhiều hơn,” Tiến sĩ Kamrava nói. “Một thành viên trong gia đình bị ung thư ruột kết không có nghĩa là bạn có nguy cơ cao hơn. Nó còn phụ thuộc vào dạng, loại ung thư, tuổi khởi phát,... Nhưng nếu bạn có tiền sử gia đình bị ung thư ruột kết thì điều quan trọng là bác sĩ của bạn phải biết”.

Xu hướng này khiến các bác sĩ thay đổi những xét nghiệm mà họ yêu cầu đối với những trường hợp nghi ngờ mắc ung thư đại trực tràng. Kamrava nói rằng, ung thư đại tràng do di truyền có nhiều khả năng xảy ra ở bên phải của đại tràng, nơi mà nội soi đại tràng sẽ bỏ sót nó (nội soi đại tràng sigma chỉ đánh giá phần bên trái của đại tràng và trực tràng, vì vậy, sẽ không thể phát hiện tổn thương đại tràng bên phải). Khi nội soi trở nên phổ biến hơn, các tổn thương bên phải ngày càng được phát hiện nhiều. Do đó, nhiều bệnh nhân trẻ tuổi đang được chẩn đoán hơn.

Bệnh ung thư đại trực tràng hoàn toàn có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm, do đó, việc sàng lọc phát hiện sớm ung thư đại trực tràng hết sức quan trọng. Khi có yếu tố nguy cơ hoặc các biểu hiện nghi ngờ, bạn nên đến các bệnh viện, trung tâm y tế chuyên sâu để khám sàng lọc giúp phát hiện sớm ung thư đại trực tràng.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là chuỗi bệnh viện lớn, là bệnh viện đa khoa đầu tiên tại Việt Nam đạt tiêu chuẩn y tế toàn cầu. Hiện, Vinmec là cơ sở y tế đi đầu trong lĩnh vực tầm soát và phát hiện ung thư đại trực tràng.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện đảm bảo trang thiết bị hiện đại, đội ngũ bác sĩ, nhân viên giỏi, giàu kinh nghiệm với các giáo sư, bác sĩ hàng đầu trong và ngoài nước, hệ thống phòng bệnh, xét nghiệm tiên tiến cho phép thực hiện các kỹ thuật sàng lọc ung thư đại trực tràng tiên tiến nhất.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 15% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 17/10 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

568 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan