Bệnh khúc xạ ở trẻ em

12/09/2012
Bệnh khúc xạ ở trẻ em

Bài viết được viết bởi ThS.BS Đặng Xuân Nguyên - Trưởng Đơn vị Mắt – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec

Đã từ lâu, tật khúc xạ nói chung, đặc biệt là bệnh cận thị ở trẻ em tuổi học đường nói riêng, đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về nhiều mặt. Đặc biệt trong những năm gần đây, lối sống hiện đại với việc sử dụng ngày càng phổ biến các phương tiện điện tử và cường độ học tập cao đã làm tăng cao tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở lứa tuổi học đường.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Quốc tế về Phòng chống Mù lòa (IAPB) đã nhận định rằng, tật khúc xạ chưa được chỉnh kính đã và đang là một nguyên nhân đáng kể gây mù và là nguyên nhân chủ yếu gây giảm thị lực. Năm 2006, WHO ước tính có khoảng 2,3 tỷ người trên thế giới mắc tật khúc xạ, trong đó có 153 triệu người bị giảm thị lực hoặc bị mù do tật khúc xạ không được chỉnh kính.

Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, trong những năm gần đây, tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ đặc biệt là tật cận thị ngày càng tăng cao. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu điều tra dịch tễ học được tiến hành trong cả nước đã chỉ ra rằng, tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ đặc biệt cao ở các thành phố lớn dao động từ 18% tới 38,8%.

1. Thế nào là mắt cận thị

Bình thường ảnh của sự vật đi qua các hệ thống quang học của mắt rồi được hội tụ đúng trên võng mạc, giúp mắt nhìn rõ được cảnh vật. Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ.

Về cơ chế bệnh sinh, người ta chia cận thị ra làm 2 loại là cận thị khúc xạ và cận thị trục.

  • Cận thị khúc xạ

Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn, (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh quy định) trong khi chiều dài trục nhãn cầu bình thường. Loại này hay gặp trong cận thị học đường. Khi mắt phải nhìn gần với cường độ lớn và trong một thời gian dài, thể thủy tinh bị phồng lên làm tăng độ hội tụ của mắt. Lúc này muốn nhìn rõ, phải đưa hình ảnh của vật lại gần mắt. Những sự vật ở xa, mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị.

Cận thị học đường xuất hiện ở lứa tuổi đi học, xuất hiện càng sớm thì khả năng tiến triển càng nhanh và nặng. Cận thị học đường đơn thuần ít khi quá 6 đi-ốp và thường không kèm theo giãn mỏng võng mạc và các nguy cơ khác của đáy mắt.

  • Cận thị trục

Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường. Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học.

Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, khó điều chỉnh bằng kính, các chức năng khác như thị trường cũng bị tổn thương, rối loạn cảm giác về màu sắc, về định vị không gian, thích nghi sáng tối... đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù lòa. Ở mắt cận thị bệnh lý cũng dế bị mắc bệnh glaucoma, khó phát hiện do nhãn áp thường không cao.

Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ
Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ

2. Các dấu hiệu nhận biết trẻ bị cận thị

  • Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi.
  • Hay nheo mắt để nhìn mọi vật, đặc biệt khi ánh sang yếu; Hoặc có những động tác bất thường liên tục như dụi mắt, nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn
  • Trẻ kêu mắt nhìn mờ hoặc nhức mắt
  • Kết quả học tập sút kém, không thích các hoạt động nhìn xa như đá bóng, đá cầu mà thích thú hơn với việc đọc truyện, xem phim, chơi game...
  • Trẻ bị cận thị nặng có thể bị lác mắt kèm theo
  • C rẻ bị cận thị cần phải được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa mắt để xác định chính xác mức độ cận thị, loại cận thị, phát hiện và điều trị các tổn thương ở đáy mắt nếu có.
Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi
Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi

3. Cần làm gì khi trẻ bi cận thị

Từ những dấu hiệu nhận biết trên, phụ huynh nên đưa trẻ đến khám bác sĩ chuyên khoa Mắt để được tư vấn và điều trị thích hợp.

Quy trình khám mới một trẻ cận thị

  • Thăm hỏi về thời gian và mức độ các biểu hiện của cận thị
  • Thử thị lực không kính và thị lực qua kính lỗ để xác định sơ bộ có mắc tật khúc xạ hay không
  • Soi bóng đồng tử (Skiascopy) và đo khúc xạ chủ quan với kính thử
  • Tra thuốc liệt điều tiết và đo lại khúc xạ khách quan (Skiascopy)
  • Xem xét sự tương quan giữa khúc xạ khách quan sau tra thuốc liệt điều tiết và kết quả thử thị lực trước khi tra liệt điều tiết. Nếu thấy phù hợp, bác sĩ sẽ cấp đơn kính cho bệnh nhân. Nếu có sự không phù hợp, bác sĩ sẽ hẹn bệnh nhân lần sau đến thử kính, khi hết tác dụng của thuốc liệt điều tiết.

Quy trình này hạn chế được tối đa thời gian để thực hiện đầy đủ một quy trình khám khúc xạ nhằm đưa ra một kết quả chính xác nhất.

Quy trình khám mới một trẻ cận thị
Quy trình khám mới một trẻ cận thị

2. Phương pháp điều trị

Sử dụng kính

  • Trẻ bị cận thị cần được đeo kính cận thị đúng số. Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, giúp phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện và giúp trẻ hòa nhập vào thế giới năng động và nhiều màu sắc của chúng. Cần hiểu rằng 80% thông tin của cuộc sống là do chức năng thị giác mang lại. Đeo kính giúp mắt nhìn xa rõ, nhìn gần ở khoảng cách bình thường, giảm dần thói quen nhìn sát vào sách vở, do đó có tác dụng hạn chế được tốc độ tăng số của mắt. Đeo kính thường xuyên là tốt nhất, đặc biệt khi học hành, xem ti vi.
  • Kính cần được lắp đúng kỹ thuật, phù hợp với kích thước khuôn mặt, biết cách bảo quản tránh xước kính.
  • Chế độ vệ sinh thị giác: Cần bố trí hợp lý giữa thời gian học hành, xem sách báo với thời gian hoạt động ngoài trời. Cần tập thói quen nhìn xa, tập nhìn xa 15 – 30 phút/ngày. Giờ ra chơi nên chơi ở nơi thoáng rộng. Học hành 40 – 45 phút nên cho mắt nghỉ ngơi 5 - 10 phút. Thường xuyên mát xa quanh mắt để thư giãn điều tiết cho mắt.
Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, giúp phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện
Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, giúp phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện

Chế độ ăn dinh dưỡng:

Ăn uống đủ chất, đặc biệt là rau củ quả màu xanh thẫm hoặc màu đỏ. Ăn đủ thịt, cá, trứng, sữa. Có thể uống các loại thuốc bổ về mắt hoặc thực phẩm chức năng để tăng cường chức năng và chống thoái hóa cho các thành phần của mắt.