Lưu ý trong điều trị bệnh máu khó đông

23/10/2019
Điều trị máu khó đông

Bệnh máu khó đông tên chuyên môn là hemophilia, là tình trạng máu không có khả năng đông cầm như bình thường. Điều này khiến cho người bệnh rất dễ bị chảy máu, chảy máu nhiều hơn bình thường, đôi khi đe dọa tính mạng. Bệnh là do di truyền nên không có cách chữa khỏi. Việc điều trị chủ yếu là nâng đỡ khả năng đông máu cũng như phòng tránh chảy máu. Sau đây là những lưu ý trong điều trị bệnh máu khó đông và các cách phòng tránh chảy máu mà người bệnh nên biết để có cuộc sống hòa nhập như mọi người xung quanh.

1. Nhận biết sớm các triệu chứng của bệnh máu khó đông

Các triệu chứng phụ thuộc vào mức độ bệnh là thể nhẹ hay thể nặng. Nếu mắc thể nặng, một số trẻ bắt đầu có triệu chứng từ khi sinh ra. Nếu mắc thể nhẹ, trẻ chỉ được phát hiện khi thấy chảy máu nhiều hơn bình thường sau một chấn thương, thủ thuật hoặc phẫu thuật.

Tuy nhiên, dù cho có là mắc bệnh máu khó đông ở thể nào, bất cứ người bệnh nào cũng đều có thể bị chảy máu tự phát mà không có lý do. Biểu hiện của chảy máu kiểu này thường xảy ra trong khớp. Các khớp hay tổn thương nhất là mắt cá chân, đầu gối và khuỷu tay. Máu chảy trong khớp có thể gây đau, sưng, cứng và khó cử động khớp. Theo thời gian, nếu chảy máu nhiều lần trong khớp có thể dẫn đến đau mạn tính, thoái hóa gây mất chức năng khớp về lâu dài.

Ngoài ra, các triệu chứng khác của máu khó đông là chảy máu ở các bộ phận còn lại trên cơ thể, bao gồm:

  • Đi tiêu phân đen;
  • Đi tiểu ra máu;
  • Đau bụng do chảy máu vào thành bụng;
  • Bầm tím hoặc sưng nề do chảy máu trong cơ bắp;
  • Xuất huyết tự phát hay sau chấn thương trong não hoặc tủy sống.

Trong quá trình điều trị, cần nhận biết sớm các triệu chứng chảy máu ở người bệnh tại các cơ quan như trên. Khi có bất kỳ biểu hiện nào, bệnh nhân cần đến bệnh viện sớm để được can thiệp kịp thời bằng cách cầm máu tại chỗ cũng như truyền các yếu tố đông máu.

Điều trị máu khó đông
Người bệnh máu khó đông thường bầm tím hoặc sưng nề do chảy máu trong cơ bắp

2. Cách thức điều trị bệnh máu khó đông

Hemophilia được điều trị tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Đồng thời, cách thức điều chỉnh đông máu cũng phụ thuộc vào việc người bệnh có nguy cơ chấn thương hay không cũng như có cần phải thực hiện thủ thuật hay phẫu thuật gì không.

Nhìn chung, phương pháp điều trị chính cho bệnh Hemophilia là "liệu pháp thay thế yếu tố đông máu". Bác sĩ sẽ chỉ định truyền các yếu tố đông máu tách chiết từ máu toàn phần (do người hiến máu) để điều trị khi xảy ra chảy máu, hoặc tiến hành định kỳ để ngăn ngừa chảy máu trên các đối tượng nguy cơ cao. Tùy vào yếu tố nào bị thiếu, người bệnh sẽ được bổ sung thêm.

Ngày nay, do sự khan hiếm của máu hiến, các nhà khoa học đang từng bước nghiên cứu các sản phẩm đông máu nhân tạo. Các sản phẩm này hứa hẹn sẽ đáp ứng nhu cầu cấp thiết cũng như giúp giảm thiểu xảy ra tai biến khi truyền máu.

3. Cách phòng tránh chảy máu ở bệnh nhân máu khó đông

Những người mắc bệnh máu khó đông cần đề phòng các rủi ro có thể xảy ra chảy máu. Dưới đây là những hướng dẫn trong phòng tránh chảy máu bệnh nhân có thể tham khảo:

  • Cần nắm rõ bản thân mình mắc bệnh máu khó đông loại nào ("A" hoặc "B");
  • Thăm khám định kỳ để xét nghiệm khả năng đông máu;
  • Tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ;
  • Nắm rõ những hoạt động hoặc môn thể thao cần tránh;
  • Nhận biết được các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu;
  • Không dùng aspirin hoặc thuốc giảm đau nhóm NSAID;
  • Lên kế hoạch chuẩn bị trước khi cần can thiệp thủ thuật, phẫu thuật có thể gây chảy máu;
  • Vệ sinh răng miệng tốt và thăm khám nha sĩ định kỳ hằng năm;
  • Mang theo yếu tố đông máu thay thế khi đi du lịch, công tác;
  • Nếu con bạn mắc bệnh máu khó đông, bạn nên thông báo cho người chăm sóc, cô giáo trong nhà trường biết. Đồng thời, dạy cho trẻ những triệu chứng cần theo dõi và nhận biết chảy máu.
Điều trị máu khó đông
Bệnh nhân không sử cung aspirin hay thuốc giảm đau nhóm NSAID

4. Bệnh máu khó đông và thai kỳ

Phụ nữ mang thai có gen bệnh Hemophilia có nguy cơ truyền gen này cho bào thai. Chính vì vậy, cần xét nghiệm di truyền của thai nhi nếu trong gia đình có người mang gen mang bệnh. Bên cạnh đó, đây là một thai kỳ nguy cơ cao và cần các bác sĩ sản khoa cần theo dõi sát trong suốt các tam cá nguyệt, nhất là ba tháng đầu và ba tháng cuối:

Trong ba tháng đầu, cần siêu âm để biết sớm giới tính của em bé. Điều này cần thiết là vì bé trai có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bé gái rất nhiều lần. Ngoài ra, các bé trai cũng cần được tầm soát khả năng mắc bệnh máu khó đông hay không.

Đến ba tháng cuối, cần chuẩn bị điều kiện sinh nở an toàn vì chuyển dạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hơn thế nữa, các phụ nữ mang gen bệnh máu khó đông sẽ có nguy cơ chảy máu bất thường và nặng nề. Vì thế, các bác sĩ sẽ thường xuyên kiểm tra nồng độ các yếu tố đông máu, hạn chế sang chấn khi đỡ sinh cũng như sẵn sàng các yếu tố đông máu cần sử dụng để cầm máu sau chuyển dạ, tránh mất máu nhiều làm nguy kịch tính mạng sản phụ.

Tóm lại, bệnh máu khó đông mặc dù không thể chữa khỏi nhưng nếu nắm vững các nguyên tắc điều trị trên đây, người bệnh vẫn có thể có một cuộc sống như bình thường. Trong đó, điều đặc biệt cần lưu ý là bệnh nhân phải biết cách nhận ra các dấu hiệu chảy máu để can thiệp kịp thời, nhất là với trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, việc sàng lọc di truyền trước sinh cũng là một điều cần thiết để hạn chế nguy cơ mang bệnh cho trẻ..

XEM THÊM: