Nhiễm vi rút viêm gan B: Tại sao cần chú ý

12/09/2011
b7b42f2e513a9bf3851aaf3320eecf17.jpg

Khoảng một phần ba dân số thế giới, tương ứng với 2 tỷ người, có tiền sử (đã từng bị) nhiễm vi rút viêm gan B, HBV: hepatitis B virus. Trong đó hiện nay có trên 350 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính. Tại sao 2 tỷ người có tiền sử nhiễm mà chỉ có khoảng 350 triệu người nhiễm vi rút mạn tính: khi nhiễn vi rút viêm gan B cấp tính trong cơ thể chúng ta sẽ có cơ chế đáp ứng tự nhiên nhằm đào thải vi rút. Khả năng đào thải vi rút tự nhiên phụ thuộc vào độ tuổi nhiễm vi rút viêm gan B, nhiễm ở độ tuổi càng nhỏ thì khả năng đào thải vi rút tự nhiên càng thấp và khả năng chuyển thành nhiễm vi rút mạn tính càng cao. Ngược lại nhiễm ở lứa tuổi trưởng thành thì khả năng đào thải vi rút tự nhiên cao hơn và khả năng chuyển thành nhiễm vi rút mạn tính thấp hơn.



Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính có tính chất địa lý khác nhau [Hình minh họa]. Khu vực đông nam châu Á – trong đó Việt Nam, Trung quốc, một số nước trung Á, Ả rập, miền trung và miền nam châu Phi, khu vực bắc nam Mỹ, Alaska và bắc Canada là những vùng đại dịch nhiễm nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính, với tỷ lệ người nhiễm vi rút mạn tính trên 8% dân số. Với mật độ dân cư lớn, nên trên 50% số người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính sinh sống tại khu vực đông nam châu Á và Trung quốc. Vi rút viêm gan B có thể lây qua đường máu và tiếp xúc dịch cơ thể: từ mẹ sang con, truyền máu và các chế phẩm của máu, tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm, dùng chung dao cạo râu. Đặc điểm đường lây truyền không giống nhau giữa các khu vực trên thế giới, đường lây truyền cơ bản ở các nước có tỷ lệ nhiễm cao trên 8% dân số chủ yếu là truyền từ mẹ sang con, hoặc nhiễm từ thời kỳ trẻ em. Ngược lại ở các nước và các khu vực có tỷ nhiễm thấp, chủ yếu nhiễm vi rút viêm gan B khi đã ở lứa tuổi trưởng thành và đường lây truyền chính là tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm, truyền máu và các chế phẩm máu. Những người nghiện ma túy và gái mại dâm là nhóm nguy cơ cao nhiễm vi rút viêm gan B. Ngoài ra nhân viên Y tế cũng là những người có nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan B cao hơn người bình thường.

Vi rút viêm gan B là nguyên nhân hàng đầu gây viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan. Hàng năm bệnh lý liên quan đến vi rút viêm gan B là nguyên nhân gây tử vong cho khoảng 1 triệu bệnh nhân. Người nhiễm vi rút viêm gan B có nguy cơ bị ung thư gan cao gấp 200 lần so với người không nhiễm vi rút. Mỗi năm thế giới có khoảng 600.000 trường hợp ung thư gan mới mắc được phát hiện, trong đó có tới 80% nguyên nhân là do vi rút viêm gan B.



Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính tại Việt Nam trên 8% dân số và một số tỉnh có thể lên đến 15-20%, ước tính hiện nay tại Việt Nam có khoảng 12-14 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính. Phần lớn người Việt Nam nhiễm vi rút viêm gan B là thông qua con đường mẹ truyền cho con hoặc nhiễm khi còn ít tuổi, do vậy trong trong một thời gian dài trước khi đến tuổi trưởng thành ở trong giai đoạn dung nạp miễn dịch và không có biểu hiện bệnh lý. Khi bước vào độ tuổi 20 – 40, có người biểu hiện bệnh lý viêm gan rầm rộ, nhiều người chỉ thấy hơi mệt mỏi, ăn kém hoặc có biểu hiện giống cảm cúm do vậy dễ bỏ qua, thậm chí có người hoàn toàn không có triệu chứng. Chính vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi nhiều người đi khám thì bệnh đã chuyển sang giai đoạn xơ gan hoặc đã bị ung thư gan, thậm chí nhiều người bệnh đã ở giai đoạn muộn và các biện pháp can thiệp của Y học đã không còn khả năng phát huy tác dụng điều trị hữu hiệu.

Biện pháp tốt nhất để làm giảm tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B là tiêm phòng vắc-xin. Tổ chức Y tế thế giới đưa ra khuyến cáo đối với các nước có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao nên triển khai chương trình tiêm phòng vắc-xin rộng rãi cho trẻ mới sinh ra. Tất cả các đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao nên đi kiểm tra vi rút viêm gan B, nếu chưa bị nhiễm thì nên tiêm phòng vắc-xin.

Không phải tất cả người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính đều tiến triển thành bệnh lý, chỉ khoảng 15-40% trong tổng số người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính sẽ có tiến triển thành bệnh lý viêm gan và các biến chứng của viêm gan. Do vậy, người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính cần được đánh giá và chẩn đoán giai đoạn nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính bởi các bác sĩ thuộc chuyên khoa Tiêu hóa - Gan mật và Viêm gan; tránh tình trạng lạm dụng chỉ định điều trị và điều trị không đúng, gây nên tình trạng lãng phí về kinh tế - làm trầm trọng thêm đột biến kháng thuốc của vi rút cũng như các tác dụng phụ do thuốc điều trị gây ra. Với thành tựu về dược phẩm và trình độ của Y học hiện nay, không phải tất cả người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính đều có chỉ định điều trị, chúng ta hiện nay chưa đạt được khái niệm làm sạch hoàn toàn vi rút trong cơ thể người bệnh. Mục tiêu chính của điều trị hiện nay là ức chế tối đa quá trình nhân lên của vi rút viêm gan B – hạn chế tiến trình bệnh lý, làm giảm tỷ lệ bệnh nhân xơ gan-ung thư gan và giảm tỷ lệ tử vong đối với bệnh lý do vi rút viêm gan B gây ra.

Hậu quả do vi rút viêm gan B đối với con người là to lớn, tuy nhiên khi bạn bị nhiễm vi rút viêm gan B thì không nên hoảng sợ, kể cả đối với phụ nữ đang có thai. Lời khuyên đầu tiên đối với bạn là hãy bình tĩnh, đi khám đúng chuyên khoa, tuân thủ theo những lời khuyên hữu ích và chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Tất cả người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính cần đi khám sức khỏe định kỳ nhằm đánh giá tình trạng bệnh lý của gan, tình trạng vi rút viêm gan B và phân tích các yếu tố nguy cơ kèm theo: đồng nhiễm với vi rút viêm gan C, vi rút viêm gan D, vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người-HIV, hay các thói quen sinh hoạt bất lợi..... Tuỳ theo các trường hợp cụ thể mà thầy thuốc sẽ khuyên bạn khi khám định kỳ 1 năm/1 lần, 6-12 tháng/1 lần, 3-6 tháng/1 lần, 3 tháng/1 lần hay khám định kỳ hàng tháng. Đặc biệt những phụ nữ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính khi có thai cần được theo dõi chặt chẽ, được chỉ định điều trị đúng và nên làm theo chỉ dẫn của bác sĩ nhằm hạn chế tối đa khả năng lây truyền cho con. Việt Nam thuộc khu vực mà người nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính trên 40 tuổi nên đi kiểm tra định kỳ để tầm soát ung thư gan trung bình 6-12 tháng/1 lần.


TS. BS. Bùi Xuân Trường
Chuyên khoa: Tiêu hóa – Gan mật – Viêm gan
Dự án Bệnh viện Đa khoa Quốc tế VinMec, Tập đoàn VinGroup