......

Huyết áp thấp

Bài viết được viết bởi Bác sĩ Đặng Anh Sơn - Khoa cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Bình thường huyết áp khoảng 120/80 mmHg (120: huyết áp tâm thu, 80: huyết áp tâm trương) Chỉ số huyết áp thấp hơn 90 mmHg (tâm thu) hoặc 60 mmHg (tâm trương) thường được coi là huyết áp thấp. Nguyên nhân của huyết áp thấp có thể từ mất nước đến các rối loạn y tế nghiêm trọng. Điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân gây ra huyết áp thấp của bạn để có thể điều trị.

I. Các triệu chứng

Đối với một số người, huyết áp thấp báo hiệu một vấn đề tiềm ẩn, đặc biệt là khi nó giảm đột ngột hoặc kèm theo các dấu hiệu và triệu chứng như:

  • Chóng mặt hoặc choáng váng
  • Ngất xỉu
  • Nhìn mờ hoặc mờ dần
  • Buồn nôn
  • Mệt mỏi
  • Thiếu tập trung

Sốc: Hạ huyết áp quá mức có thể dẫn đến tình trạng đe dọa tính mạng này. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

  • Lú lẫn, đặc biệt ở người lớn tuổi
  • Da lạnh, sần sùi, nhợt nhạt
  • Thở nhanh, nông
  • Mạch yếu và nhanh

II. Nguyên nhân

Các nguyên nhân gây ra huyết áp thấp rất đa dạng bao gồm:

  • Thai kỳ. Do hệ thống tuần hoàn mở rộng nhanh chóng trong thai kỳ, huyết áp có thể giảm xuống. Điều này là bình thường và huyết áp thường trở lại mức trước khi mang thai sau khi bạn sinh.
  • Vấn đề tim mạch. Một số bệnh tim có thể dẫn đến huyết áp thấp bao gồm nhịp tim cực thấp (nhịp tim chậm), các vấn đề về van tim, đau tim và suy tim.
  • Các vấn đề về nội tiết. Bệnh tuyến cận giáp, suy thượng thận (bệnh Addison), lượng đường trong máu thấp (hạ đường huyết) và trong một số trường hợp, bệnh tiểu đường có thể gây ra huyết áp thấp.
  • Mất nước. Khi cơ thể mất nhiều nước hơn lượng nước cần thiết, nó có thể gây ra suy nhược, chóng mặt và mệt mỏi. Sốt, nôn mửa, tiêu chảy nặng, lạm dụng thuốc lợi tiểu và tập thể dục gắng sức có thể dẫn đến mất nước.
  • Mất máu. Mất nhiều máu, chẳng hạn như chấn thương lớn hoặc chảy máu trong, làm giảm lượng máu trong cơ thể, dẫn đến giảm huyết áp nghiêm trọng.
  • Nhiễm trùng nặng (nhiễm trùng huyết). Khi nhiễm trùng trong cơ thể xâm nhập vào máu, nó có thể dẫn đến tụt huyết áp đe dọa tính mạng được gọi là sốc nhiễm trùng.
  • Phản ứng dị ứng nghiêm trọng (phản vệ). Các tác nhân phổ biến của phản ứng nghiêm trọng và có khả năng đe dọa tính mạng này bao gồm thức ăn, một số loại thuốc, nọc côn trùng và cao su. Sốc phản vệ có thể gây khó thở, nổi mề đay, ngứa, sưng cổ họng và tụt huyết áp nguy hiểm.
  • Thiếu chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của bạn. Việc thiếu vitamin B-12, folate và sắt có thể khiến cơ thể bạn không thể sản xuất đủ tế bào hồng cầu (thiếu máu), gây ra huyết áp thấp.
  • Thuốc có thể gây huyết áp thấp: Các thuốc hạ huyết áp, Thuốc điều trị bệnh Parkinson, chẳng hạn như pramipexole (Mirapex) hoặc những thuốc có chứa levodopa, Một số loại thuốc chống trầm cảm (thuốc chống trầm cảm ba vòng), bao gồm doxepin (Silenor) và imipramine (Tofranil)..
Mổ ruột thừa khi đang mang thai
Mang thai là một trong các nguyên nhân gây ra huyết áp thấp rất

III. Phân loại

Tùy thuộc vào nguyên nhân và các yếu tố khác, bao gồm:

  • Huyết áp thấp khi đứng lên (hạ huyết áp tư thế). Đây là hiện tượng huyết áp giảm đột ngột khi bạn đứng lên từ tư thế ngồi hoặc sau khi nằm xuống.
  • Huyết áp thấp sau khi ăn (hạ huyết áp sau ăn). Sự giảm huyết áp này xảy ra từ một đến hai giờ sau khi ăn và ảnh hưởng chủ yếu đến người lớn tuổi.
  • Huyết áp thấp do tín hiệu não bị lỗi (hạ huyết áp qua trung gian thần kinh). Rối loạn này, gây tụt huyết áp sau khi đứng trong thời gian dài, chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn và trẻ em.
  • Huyết áp thấp do tổn thương hệ thần kinh (teo nhiều hệ thống kèm theo hạ huyết áp tư thế đứng). Còn được gọi là hội chứng Shy-Drager, chứng rối loạn hiếm gặp này có nhiều triệu chứng giống bệnh Parkinson.

IV. Các yếu tố nguy cơ, biến chứng

Nguy cơ

  • Tuổi: Tụt huyết áp khi đứng hoặc sau khi ăn chủ yếu xảy ra ở người lớn trên 65 tuổi. Hạ huyết áp qua trung gian thần kinh chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người trẻ tuổi.
  • Thuốc: Những người dùng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc điều trị huyết áp cao như thuốc chẹn alpha, có nguy cơ cao bị huyết áp thấp.
  • Một số bệnh: Bệnh Parkinson, tiểu đường và một số bệnh tim khiến bạn có nguy cơ cao bị huyết áp thấp.

Các biến chứng

Ngay cả những dạng huyết áp thấp vừa phải cũng có thể gây chóng mặt, suy nhược, ngất xỉu và có nguy cơ bị thương do ngã.

Và huyết áp thấp nghiêm trọng có thể làm cơ thể mất đủ oxy để thực hiện các chức năng của nó, dẫn đến tổn thương tim và não của bạn.

V. Chẩn đoán

Mục tiêu trong xét nghiệm huyết áp thấp là tìm ra nguyên nhân. Bên cạnh việc xem xét bệnh sử, khám sức khỏe và đo huyết áp, bác sĩ có thể khuyến nghị những điều sau:

  • Xét nghiệm máu. Chúng có thể cung cấp thông tin về sức khỏe tổng thể của bạn cũng như liệu bạn có rối loạn đường huyết, thiếu máu.., tất cả đều có thể gây ra huyết áp thấp hơn bình thường .
  • Điện tâm đồ (ECG). giúp phát hiện những bất thường trong nhịp tim, các vấn đề về cấu trúc trong tim và các vấn đề với việc cung cấp máu và oxy cho cơ tim của bạn.
  • Kiểm tra bàn nghiêng. Nếu bạn bị huyết áp thấp khi đứng hoặc do tín hiệu não bị lỗi (hạ huyết áp qua trung gian thần kinh), xét nghiệm bàn nghiêng có thể đánh giá cách cơ thể bạn phản ứng với những thay đổi về vị trí.
Thử nghiệm bàn nghiêng
Kiểm tra bàn nghiêng giúp chẩn đoán huyết áp thấp ở người bệnh

VI. Điều trị

Huyết áp thấp không gây ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng hoặc chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ hiếm khi cần điều trị.

Nếu bạn có các triệu chứng, việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân. Ví dụ, khi thuốc gây ra huyết áp thấp, điều trị thường bao gồm thay đổi hoặc ngừng thuốc hoặc giảm liều.

Nếu không rõ nguyên nhân gây ra huyết áp thấp hoặc không có phương pháp điều trị nào, mục tiêu là tăng huyết áp và giảm các dấu hiệu và triệu chứng. Tùy thuộc vào độ tuổi, sức khỏe và loại huyết áp thấp của bạn, bạn có thể thực hiện điều này theo một số cách:

  • Sử dụng nhiều muối hơn. Các chuyên gia thường khuyên bạn nên hạn chế muối trong chế độ ăn uống của bạn vì natri có thể làm tăng huyết áp, đôi khi đột ngột. Đối với những người bị huyết áp thấp, đó có thể là một điều tốt.
  • Uống nhiều nước hơn. Chất lỏng làm tăng khối lượng máu và giúp ngăn ngừa mất nước, cả hai đều quan trọng trong việc điều trị hạ huyết áp.
  • Mang vớ nén. Các loại vớ đàn hồi thường được sử dụng để giảm đau và sưng do giãn tĩnh mạch có thể giúp giảm lượng máu tụ ở chân của bạn.
  • Thuốc. Một số loại thuốc có thể được sử dụng để điều trị huyết áp thấp xảy ra khi bạn đứng lên (hạ huyết áp thế đứng). Ví dụ, thuốc fludrocortisone, giúp tăng thể tích máu, thường được sử dụng để điều trị dạng huyết áp thấp này.

Các bác sĩ thường sử dụng thuốc midodrine (Orvaten) để tăng mức huyết áp đứng ở những người bị hạ huyết áp thế đứng mãn tính. Nó hoạt động bằng cách hạn chế khả năng giãn nở của mạch máu, làm tăng huyết áp.

Lối sống và biện pháp khắc phục tại nhà

Tùy thuộc vào lý do huyết áp thấp, bạn có thể giảm hoặc ngăn ngừa các triệu chứng.

  • Uống nhiều nước, ít rượu. Rượu làm mất nước và có thể làm giảm huyết áp, ngay cả khi bạn uống có chừng mực. Mặt khác, nước chống mất nước và tăng lượng máu.
  • Chú ý đến các vị trí trên cơ thể bạn. Nhẹ nhàng chuyển từ tư thế nằm sấp hoặc ngồi xổm sang tư thế đứng. Không ngồi khoanh chân.
  • Ăn các bữa ăn nhỏ. Để giúp huyết áp không giảm mạnh sau bữa ăn, hãy ăn thành nhiều phần nhỏ nhiều lần trong ngày và hạn chế thực phẩm giàu carbohydrate như khoai tây, gạo, mì ống và bánh mì.
  • Tập thể dục thường xuyên. Cố gắng tập thể dục từ 30 đến 60 phút mỗi ngày để tăng nhịp tim và tập sức đề kháng hai hoặc ba ngày một tuần. Tránh tập thể dục trong điều kiện nóng ẩm.

Mọi thắc mắc cần được bác sĩ chuyên khoa giải đáp cũng như quý khách hàng có nhu cầu khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đăng ký trực tuyến trên Website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

1.3K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan