......

Quy trình chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ đặc hiệu

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Tiến sĩ, Bác sĩ Phạm Quốc Thành - Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh - Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ không đặc hiệu là một phương pháp đặc biệt dùng để phát hiện ra các căn bệnh có liên quan trực tiếp đến các mạch máu bạch mạch và hạch bạch huyết.

1. Chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ là gì?

Cộng hưởng từ hệ bạch mạch đã được sử dụng từ những năm 1990. Cộng hưởng từ có nhiều thuận lợi so với chụp xạ hình hệ bạch mạch như độ phân giải thời gian và không gian cao, cho hình ảnh 3 chiều, không phơi nhiễm phóng xạ như các phương pháp chụp thông thường khác. Chụp cộng hưởng từ trong y khoa còn có cách viết tắt là MRI.

Thêm vào đó là sự ra đời của các chất thuốc đối quang từ và các kỹ thuật mới trong cộng hưởng từ, chụp cộng hưởng từ bạch mạch cho phép đánh giá được mạch máu bạch mạch và hạch bạch huyết.

Cộng hưởng từ bạch mạch với chất thuốc đối quang từ đặc hiệu như các phân tử oxit sắt siêu nhỏ (USPIO: Ultrasmall iron oxide particles ) là phương pháp không xâm lấn cho phép đánh giá, phân tích hệ bạch mạch sau khi tiêm chất thuốc đối quang từ vào tĩnh mạch. Hình ảnh thường qui về hạch bạch huyết đánh giá kích thước, hình thái có thể dẫn đến nhầm lẫn giữa hạch lành tính và ác tính. Các hạch bạch huyết bình thường sẽ hấp thu ion sắt trong chất thuốc đối quang từ, làm ngắn thời gian T2W, kết quả là làm mất tín hiệu T2W sau 24 giờ. Vì thế có thể phân biệt các hạch bạch huyết di căn bất kể tiêu chuẩn kích thước vì các tế bào hệ võng nội mô được thay bằng các tế bào di căn. Các tế bào di căn không hấp thu USPIO, vì thế không mất tín hiệu trên T2W. USPIO vì thế gọi là chất thuốc đối quang từ âm. MRI có tiêm USPIO cho phép phát hiện hạch di căn nhỏ.

Hạch bạch huyết
Chụp cộng hưởng từ bạch mạch cho phép đánh giá được mạch máu hạch bạch huyết

2. Sự khác nhau của cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ không đặc hiệu và có tiêm thuốc đối quang từ đặc hiệu.

Về cơ bản, 2 phương pháp chụp cộng hưởng này giống nhau về mặt hiệu quả và cách tiến hành chụp. Điểm khác nhau duy nhất của 2 phương pháp tiêm thuốc là ở phương pháp tiêm thuốc và mục đích đánh giá.

Chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ đặc hiệu

  • Thuốc đối quang từ đặc hiệu như các phân tử oxit sắt siêu nhỏ (USPIO: Ultrasmall iron oxide particles )
  • Tiêm đường tĩnh mạch
  • Đánh giá hạch bạch huyết về kích thước, hình thái có thể xác định hạch lành tính và ác tính

Chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ không đặc hiệu

  • Thuốc đối quang từ thông thường
  • Tiêm chất thuốc đối quang từ vào mô kẽ
  • Đánh giá về mặt cấu trúc giải phẫu cũng như một phần chức năng hệ bạch mạch. Sự bắt thuốc của hệ bạch mạch (bao gồm mạch máu và hạch bạch huyết) cho phép nhận ra đường dẫn lưu và hạch bạch huyết canh gác làm mục tiêu để sinh thiết. Ngoài ra nó còn khả năng cung cấp những thông tin về tình trạng chức năng vận chuyển dòng bạch mạch về mạch bạch huyết và hạch bạch huyết ở chi tổn thương.

3. Chỉ định và chống chỉ định phương pháp chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ đặc hiệu

Chỉ định:

  • Khi nghi ngờ tổn thương hệ thống bạch mạch.

Chống chỉ định tuyệt đối

  • Người bệnh mang các thiết bị điện tử như: máy điều hòa nhịp tim, máy chống rung, cấy ghép ốc tai, thiết bị bơm thuốc tự động dưới da, Neurostimulator...
  • Các kẹp phẫu thuật bằng kim loại nội sọ, hốc mắt, mạch máu trong vòng 6 tháng.
  • Người bệnh nặng cần có thiết bị hồi sức cạnh người

Chống chỉ định tương đối

  • Kẹp phẫu thuật bằng kim loại >6 tháng
  • Người bệnh sợ bóng tối hay sợ cô độc

4 . Các bước tiến hành chụp cộng hưởng từ bạch mạch có tiêm thuốc đối quang từ đặc hiệu

Trước khi tiến hành chụp

Người bệnh cần nắm vững những yêu cầu sau:

  • Không cần nhịn ăn.
  • Người bệnh được giải thích kỹ về thủ thuật để phối hợp tốt với thầy thuốc.
  • Kiểm tra các chống chỉ định
  • Hướng dẫn người bệnh thay quần áo của phòng chụp cộng hưởng từ và tháo bỏ các vật dụng chống chỉ định.
  • Có giấy yêu cầu chụp của bác sĩ lâm sàng với chẩn đoán rõ ràng hoặc có hồ sơ bệnh án đầy đủ (nếu cần)

Tư thế người bệnh

  • Đặt người bệnh nằm trên bàn khảo sát, đặt chân người bệnh hướng về khung máy, sử dụng cuộn thu tín hiệu phù hợp.
  • Kỹ thuật viên có thể quan sát, trao đổi trực tiếp với người bệnh từ phòng điều khiển.

Tiến hành kỹ thuật:

  • Tiêm tĩnh mạch chất thuốc đối quang từ USPIO
  • Liều tiêm: 2.6mg/kg
  • Quy trình khảo sát: Cắt ngangT1WGRE, Cắt ngangT2WFSE, Cắt ngangT2WGRE trước và sau tiêm 24giờ, 3DT1WGRE.
  • Độ dày lát cắt: 3mm
  • Mặt cắt: Hầu hết là mặt cắt ngang
  • Kết hợp thêm mặt cắt khác tùy vùng khảo sát, chẳng hạn:
  • Vùng nách đánh giá do ung thư vú: cần mặt cắt Oblique Sagittal
  • Vùng chậu: Oblique đứng ngang (obturator plane)

Nhận định kết quả:

  • So sánh hình ảnh trước và sau tiêm
  • Các hạch bạch huyết di căn không hấp thu USPIO vì thế không mất tín hiệu trên T2W.
  • Một vài kiểu hấp thu USPIO như sau: Các tổn thương ác tính hoàn toàn không bắt USPIO, bắt thuốc không đồng nhất, khiếm khuyết bắt thuốc khu trú rải rác, mất tín hiệu ngoại vi còn tín hiệu ở trung tâm.
  • Tín hiệu hạch bạch huyết không đồng nhất, bờ không đều, hoại tử trung tâm của hạch giúp nghĩ hạch ác tính. Tuy nhiên kết quả này loại trừ những hạch ác tính < 3mm và nằm ngoài vùng khảo sát.
  • USPIO làm ngắn thời gian T1W nên làm tăng tín hiệu trên T1W.

Mạch bạch huyết là một trong những thành phần chính của hệ thống miễn dịch, giúp chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây hại, các tế bào di căn. Vì thế, mọi người cần chăm sóc tốt cho mạch bạch huyết của bản thân bằng cách đi thăm khám bác sĩ khi có dấu hiệu đáng ngờ.

1.3K

Bài viết liên quan