......

Điều trị ung thư gan bằng phương pháp miễn dịch cho người không thể mổ

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền - Bác sĩ Ung bướu - Trung tâm Ung bướu Vinmec - Penn - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Ung thư biểu mô tế bào gan (thường được gọi tắt là ung thư gan), là bệnh lý ác tính thường xuất hiện ở người mắc bệnh gan mãn tính và xơ gan. Tại Việt Nam, bệnh ung thư gan thường được phát hiện muộn quá giai đoạn phẫu thuật với tiên lượng kém. Bài viết sẽ trình bày vai trò của liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư gan ở bệnh nhân không thể mổ.

1. Các phương pháp điều trị ung thư gan

Dưới đây là các phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan:

1.1. Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt gan là một phương pháp điều trị triệt để ung thư gan. Liệu pháp này nên được thực hiện đầu tiên đối với những bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật. Chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn chọn bệnh để thực hiện phẫu thuật mà tùy thuộc vào đánh giá của từng trung tâm, khu vực. Bệnh nhân “lý tưởng” để điều trị bằng phương pháp phẫu thuật là khối u gan đơn độc, chưa có bằng chứng hình ảnh về sự xâm lấn mạch máu gan, chức năng gan còn tốt (Child-Pugh A) và không có bằng chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa có ý nghĩa trên lâm sàng.

1.2. Ghép gan

Đối với bệnh nhân ung thư gan không thể phẫu thuật, ghép gan là một phương pháp khác điều trị triệt để bệnh. Đây là một kỹ thuật phức tạp đòi hỏi chuyên môn cao và đặc biệt là cần nguồn hiến tặng tương thích.

1.3. Đốt u gan bằng nhiệt (RFA, MWA)

Đốt u gan bằng nhiệt có thể được cân nhắc ở bệnh nhân có một hoặc một vài khối u kích thước nhỏ. Phương pháp này tỏ ra hiệu quả nhất đối với một hoặc hai khối u gan có đường kính <3cm, và giới hạn mức độ xơ gan ở Child-Pugh A hoặc B.

1.4. Nút mạch điều trị ung thư gan (TACE)

Đối với các trường hợp không thể phẫu thuật hoặc ghép gan, việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa vào: bệnh lý gan mạn, kích thước và vị trí khối u gan, sự tưới máu và tổng trạng chung của bệnh nhân. Chỉ định nút mạch (TACE) có thể được cân nhắc ở các trường hợp u gan kích thước lớn, đa ổ, không còn khả năng phẫu thuật.

1.5. Liệu pháp toàn thân

Nếu không thể phẫu thuật hoặc ghép gan với “gánh nặng” khối u trong gan, bệnh nhân có thể được chỉ định điều trị miễn dịch trong ung thư gan với Atezolizumab kết hợp Bevacizumab. Đối với những bệnh nhân không thể dùng Bevacizumab thì Tremelimumab kết hợp Durvalumab là một lựa chọn thay thế.

Bên cạnh liệu pháp miễn dịch, còn có một phương pháp khác điều trị ung thư gan là liệu pháp nhắm trúng đích với các loại thuốc như Sorafenib, Lenvatinib. Đây được xem là những liệu pháp thay thế đối với bệnh nhân không đủ khả năng tiếp cận Bevacizumab kết hợp Atezolizumab.

2. Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư gan ở bệnh nhân không thể mổ

Liệu pháp miễn dịch Atezolizumab kết hợp với Bevacizumab với đã được chứng minh là cải thiện khả năng sống so với đơn trị liệu Sorafenib. Atezolizumab là một kháng thể đơn dòng kháng PD-L1, một trong những thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch; còn Bevacizumab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào VEGF (yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu). Liệu pháp kết hợp giữa Atezolizumab và Bevacizumab trở thành thuốc ung thư gan mang lại nhiều lợi ích điều trị.

Theo khuyến nghị của ASCO 2020, NCCN và BCLC, nên sử dụng liệu pháp miễn dịch Atezolizumab kết hợp với Bevacizumab hơn là đơn trị liệu Sorafenib đối với bệnh nhân ung thư gan không bị xơ gan hoặc xơ gan không quá Child-Pugh A, có tổng trạng sức khỏe tốt, không thuộc đối tượng chống chỉ định của Bevacizumab và không bị tái phát sau ghép gan.

Sự kết hợp Atezolizumab với Bevacizumab đã được FDA Hoa Kỳ chấp thuận vào ngày 29/5/2020 để điều trị cho những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan không thể mổ hoặc di căn mà chưa được điều trị toàn thân trước đó. Liệu pháp này còn được ủng hộ trong một phân tích năm 2020 về 8 thử nghiệm liên quan đến điều trị đầu tay bằng liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch, kết quả cho thấy thời gian sống thêm của liệu pháp kết hợp Bevacizumab + Atezolizumab cao hơn khi so với Sorafenib, Lenvatinib và Nivolumab.

Trong phân tích mới nhất, sau thời gian theo dõi trung bình là 15,6 tháng, tỷ lệ sống thêm toàn bộ trung bình ở bệnh nhân Ung thư gan không mổ được khi điều trị kết hợp Bevacizumab + Atezolizumab là 19,2 tháng tốt hơn đáng kể khi so sánh với Sorafenib là 13,4 tháng. Tỷ lệ khối u nhỏ lại sau điều trị ở liệu pháp kết hợp Bevacizumab + Atezolizumab là 30%.

Các nghiên cứu cũng cho thấy lợi ích của liệu pháp Atezolizumab + Bevacizumab trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, hoạt động thể lực và cải thiện triệu chứng hơn liệu pháp Sorafenib. Sử dụng kết hợp Atezolizumab và Bevacizumab giúp giảm tình trạng chán ăn, tiêu chảy, đau nhức, mệt mỏi.

Bên cạnh hiệu quả mang lại, bệnh nhân điều trị kết hợp hai loại thuốc Bevacizumab + Atezolizumab có thể gặp một số tác dụng phụ không mong muốn cần thông báo với bác sĩ như:

  • Tăng huyết áp
  • Mệt mỏi
  • Tăng protein niệu
  • Ngứa hoặc phát ban
  • Tiêu chảy
  • Sốt
  • Chán ăn
  • Táo bón
  • Đau dạ dày
  • Buồn nôn, nôn mửa
  • Ho
  • Sụt cân
  • Phản ứng với thuốc
  • Chảy máu mũi

Ngoài ra, liệu pháp kép Atezolizumab + Bevacizumab còn có một số điểm chú ý khác cần được lưu ý:

  • Vì tỷ lệ đào thải cao nên tránh sử dụng liệu pháp miễn dịch ở bệnh nhân tái phát sau ghép gan.
  • Chi phí điều trị dường như là một trở ngại lớn khi lựa chọn liệu pháp kháng thể kép.

Tóm lại, điều trị miễn dịch trong ung thư gan với sự kết hợp của Atezolizumab và Bevacizumab được xem là điều trị tiêu chuẩn, giúp cải thiện thời gian sống và giảm triệu chứng ở bệnh nhân không thể phẫu thuật.

Xem thêm: Hướng dẫn chẩn đoán ung thư gan

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

362 lượt đọc

Bài viết liên quan