......

Nguyên nhân ung thư đại trực tràng - Những điều bạn thường hỏi bác sĩ

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Ung thư đại trực tràng là một loại ung thư xảy ra ở ruột kết (ruột già) và trực tràng. Theo Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), đây là loại ung thư được chẩn đoán phổ biến thứ ba. Khám sàng lọc và phát hiện sớm ung thư đại trực tràng có thể cải thiện cơ hội sống sót sau loại ung thư này.

1. Nguyên nhân nào gây ra ung thư đại trực tràng?

Hầu hết các trường hợp ung thư đại trực tràng bắt đầu như một loại polyp được gọi là u tuyến. Những polyp này không phải là ung thư, nhưng có thể chuyển thành ung thư.

Trong nhiều trường hợp, các bác sĩ không biết nguyên nhân gây ra polyp hoặc nguyên nhân khiến chúng biến chứng thành ung thư. Tuy nhiên, có những gen có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Những gen này gây ra một tỷ lệ nhỏ ung thư đại trực tràng nhưng làm tăng đáng kể nguy cơ.

Các tình trạng di truyền làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng bao gồm:

1.1. Bệnh đa polyp tuyến gia đình

Những người mắc bệnh đa polyp tuyến gia đình (FAP) phát triển hàng trăm đến hàng nghìn polyp trong ruột kết và trực tràng của họ. Polyp có thể bắt đầu phát triển ngay từ tuổi thanh thiếu niên của một người nào đó và sẽ trở thành ung thư nếu không được loại bỏ. Số lượng polyp thường tăng lên theo tuổi và độ tuổi khởi phát ung thư đại trực tràng trung bình là 39.

Ngoài ra còn có một loại FAP được gọi là FAP giảm độc lực, trong đó các polyp không bắt đầu phát triển cho đến sau này. Tuổi khởi phát ung thư đại trực tràng trung bình của những người có dạng FAP này là 55. Cả FAP cổ điển và giảm độc lực đều do đột biến trên gen APC gây ra.

Loại thứ ba của FAP là bệnh đa polyp tuyến gia đình di truyền lặn trên NST thường, là một dạng nhẹ hơn. Những người có dạng này phát triển ít polyp hơn. Nó được gây ra bởi một đột biến gen khác với các loại FAP khác.

Nguyên nhân ung thư đại trực tràng - Những điều bạn thường hỏi bác sĩ
Số lượng polyp tuyến gia đình thường tăng lên theo tuổi và độ tuổi khởi phát ung thư đại trực tràng trung bình là 39

1.2. Hội chứng lynch

Hội chứng Lynch làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng, cũng như ung thư nội mạc tử cung, buồng trứng, dạ dày, đường tiết niệu, não và tuyến tụy. Ước tính có khoảng 3% trường hợp ung thư ruột kết là do hội chứng Lynch.

Những người mắc hội chứng Lynch thường phát triển ung thư ruột kết trước tuổi 50. Họ có thể có tiền sử gia đình có nhiều người từng bị ung thư, đặc biệt là ung thư ruột kết. Hội chứng Lynch là do đột biến gen trội gây ra, có nghĩa là bạn chỉ cần thừa hưởng đột biến từ bố hoặc mẹ để phát triển tình trạng này.

1.3. Polyposis liên quan đến gen MYH

Polyp liên quan đến gen MYH gây ra các polyp ở đại tràng và trực tràng, tương tự như dạng nhẹ hơn của FAP. Đó là một tính trạng lặn, có nghĩa là bạn phải thừa hưởng một đột biến trong gen MYH từ cả bố và mẹ để phát triển bệnh đa bội nhiễm liên quan đến gen MYH. Nghiên cứu về tình trạng này vẫn đang ở giai đoạn đầu nhưng cho thấy rằng nó có thể làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư đại trực tràng.

Ngoài ra còn có một loại ung thư ruột kết di truyền được gọi là hội chứng polyposis tăng sản. Nó gây ra các polyp tăng sản, thường là lành tính, nhưng cũng làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu đang ở giai đoạn đầu và hiện tại, chưa xác định được gen nào liên quan đến hội chứng này.

XEM THÊM: Các yếu tố nguy cơ của ung thư đại trực tràng

2. Ngăn ngừa ung thư đại trực tràng

Một số biện pháp giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng:

  • Kiểm tra sức khỏe thường xuyên nếu bạn trên 50 tuổi hoặc có nguy cơ gia tăng.
  • Ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc. Ăn nhiều loại thực phẩm này có thể làm giảm nguy cơ của bạn hơn nữa.
  • Nhận hầu hết lượng protein của bạn từ thịt gia cầm, cá hoặc các loại đậu thay vì thịt đỏ hoặc thịt đã qua chế biến.
  • Đừng hút thuốc.
  • Uống rượu điều độ.
  • Duy trì cân nặng hợp lý.
  • Tập thể dục thường xuyên (ít nhất 30 phút 5 ngày một tuần).
Nguyên nhân ung thư đại trực tràng - Những điều bạn thường hỏi bác sĩ
Ăn nhiều trái cây, rau quả sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng

3. Tầm quan trọng của chẩn đoán ung thư đại trực tràng sớm

Nhiều người bị ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu không có bất kỳ triệu chứng nào. Do đó, điều quan trọng là phải được kiểm tra thường xuyên nếu bạn trên 50 tuổi hoặc có nguy cơ gia tăng. Có một số xét nghiệm khác nhau có thể giúp bác sĩ sàng lọc và chẩn đoán ung thư đại trực tràng:

3.1. Nội soi tiêu hóa

Bác sĩ có thể sử dụng một ống soi - một máy ảnh trên một ống mỏng, linh hoạt để xem xét ruột kết và trực tràng của bạn. Có hai loại:

Soi toàn bộ đại tràng: Tất cả những người từ 50 đến 75 tuổi và có nguy cơ bình thường bị ung thư đại trực tràng nên nội soi đại tràng mười năm một lần. Nội soi đại tràng cho phép bác sĩ nhìn thấy toàn bộ đại tràng của bạn và loại bỏ các polyp và một số bệnh ung thư. Nó cũng được sử dụng để theo dõi các thử nghiệm khác khi cần thiết.

Soi hậu môn trực tràng: Phương pháp này sử dụng một ống soi ngắn hơn so với nội soi đại tràng và cho phép các bác sĩ xem trực tràng và một phần ba phía dưới ruột kết của bạn. Nếu bạn chọn làm nội soi chậu hông để sàng lọc, nó nên được thực hiện 5 năm một lần, hoặc mười năm một lần nếu bạn làm xét nghiệm hóa miễn dịch trong phân hàng năm.

3.2. Kiểm tra phân

Ngoài phạm vi, có các xét nghiệm xem xét phân của bạn để tìm các dấu hiệu của ung thư đại trực tràng. Bao gồm các:

  • Xét nghiệm máu ẩn trong phân dựa trên Guaiac (gFOBT): Sử dụng một hóa chất để phát hiện máu trong phân của bạn. Bạn nhận một bộ dụng cụ từ bác sĩ của bạn, thu thập phân ở nhà, sau đó gửi lại bộ dụng cụ để phân tích.
  • Xét nghiệm hóa miễn dịch trong phân (FIT): Tương tự như gFOBT, nhưng sử dụng kháng thể để phát hiện máu trong phân.
  • Xét nghiệm FIT-DNA: Kết hợp FIT với xét nghiệm DNA bị thay đổi trong phân của bạn.

4. Triệu chứng của ung thư đại trực tràng

Các triệu chứng của ung thư đại trực tràng bao gồm:

  • Chảy máu trực tràng hoặc máu trong phân của bạn
  • Giảm cân không giải thích được
  • Tiêu chảy, táo bón hoặc các thay đổi khác ở ruột kéo dài ít nhất bốn tuần
  • Khó chịu hoặc đau bụng kéo dài, chẳng hạn như chuột rút
  • Suy nhược và mệt mỏi
  • Đau ở bụng dưới của bạn

Kết luận

Một số trường hợp ung thư đại trực tràng là do yếu tố di truyền, nhưng ở nhiều trường hợp khác, bác sĩ không biết nguyên nhân. Và bởi vì ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào nên việc phát hiện sớm là điều cần thiết. Khi được phát hiện sớm, ung thư đại trực tràng có thể điều trị và chữa khỏi được.

Khám sàng lọc ung thư đường tiêu hoá là biện pháp khoa học và hiệu quả để phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa (ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng) và đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có đội ngũ y bác sĩ đầu ngành giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực chẩn đoán, điều trị ung thư đại trực tràng, có sự hỗ trợ của hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại, đầy đủ các phương tiện chuyên môn để chẩn đoán xác định bệnh và xếp giai đoạn trước điều trị như: Nội soi, CT scan, PET-CT scan, MRI, Chụp X quang tuyến vú, chẩn đoán mô bệnh học, xét nghiệm gen - tế bào,... giúp phát hiện sớm bệnh ung thư đại tràng ngay cả khi chưa có triệu chứng.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 20% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/8 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Bài viết tham khảo nguồn: Hyperplastic polyposis syndrome. Key statistics for colorectal cancer. (2018). Lee J, et al. (2015). Diet and lifestyle in survivors of colorectal cancer. Mayo Clinic Staff. (2018). Colon cancer.

61 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan