Bệnh viêm cơ tim cấp nguy hiểm thế nào? Dấu hiệu và cách chẩn đoán

15/06/2019
Viêm cơ tim cấp

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Quốc Việt - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Viêm cơ tim là một trong những bệnh lý về tim vô cùng nguy hiểm. Đây là hiện tượng các tế bào cơ tim bị tổn thương do nhiều tác nhân khác nhau dẫn đến hiện tượng viêm, hoại tử tế bào cơ tim.

1. Bệnh viêm cơ tim là gì?

Viêm cơ tim là tình trạng viêm lớp cơ dày của thành tim khiến cơ tim bị tổn thương viêm và hoại tử, ảnh hưởng tới chức năng co bóp của cơ tim. Bệnh viêm cơ tim nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, dẫn đến suy tim nhanh chóng và đe dọa tính mạng người bệnh.

Viêm cơ tim có thể biểu hiện dưới nhiều triệu chứng và mức độ khác nhau, từ nhẹ, triệu chứng mơ hồ đến rất nặng, sốc tim và tử vong. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh cơ tim giãn với suy tim mạn tính.

2. Sự nguy hiểm của bệnh viêm cơ tim

Viêm cơ tim cấp
Bệnh viêm cơ tim rất nguy hiểm

Bệnh viêm cơ tim cấp thường xuất hiện ở những người trẻ từ 20 - 40 tuổi. Thường gặp nhiều ở mùa mưa khi thời tiết chuyển mùa.

Đây là căn bệnh có diễn biến nhanh đột ngột, phức tạp, nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị sớm và kịp thời. Dấu hiệu ban đầu của bệnh rất khó phát hiện bởi triệu chứng lâm sàng không điển hình, giống cảm sốt thông thường như: mệt mỏi, đau nhức người, chán ăn...hơn nữa lại hay gặp ở người trẻ tuổi nên càng dễ chủ quan, coi nhẹ.

Bệnh viêm cơ tim cấp chỉ sau vài ngày đã gây ra các biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi, rối loạn nhịp tim, suy hô hấp, suy tim. Vì vậy, nếu bị cảm sốt và đi kèm theo những biểu hiện khác thường: tức ngực, khó thở, nhịp tim nhanh...thì người bệnh cần lập tức đến cơ sở y tế để phát hiện và điều trị kịp thời.

Trong trường hợp viêm cơ tim nặng, có thể dẫn tới tình trạng:

  • Ngất, đột tử.
  • Rối loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu, block dẫn truyền, nhịp nhanh...
  • Trường hợp rất nặng, đe dọa tính mạng: suy tim do viêm cơ tim đòi hỏi tim nhân tạo hoặc cấy ghép tim.
  • Tiên lượng lâu dài: có thể dẫn đến bệnh cơ tim giãn nở, suy tim nặng.

3. Nguyên nhân gây bệnh viêm cơ tim

Nguyên nhân gây viêm cơ tim chủ yếu là do virus, trong đó thường gặp nhất là do virus coxsackie B. Một số loại virus khác như virus gây cảm lạnh thông thường (adenovirus), parvovirus B19 (virus gây sốt phát ban), virus herpes (gây bệnh thủy đậu, zona thần kinh), echovirus (virus gây nhiễm trùng đường tiêu hóa), hay virus rubella (gây bệnh sởi) cũng là nguyên nhân tiềm tàng của viêm cơ tim.

Ngoài ra, bệnh viêm cơ tim cũng có thể gây ra bởi vi khuẩn, ký sinh trùng; do tiếp xúc với thuốc gây dị ứng, độc hại, thuốc chống động kinh; do điều trị bằng hóa trị hoặc xạ trị; mắc bệnh lupus, viêm động mạch...

4. Dấu hiệu và chẩn đoán bệnh viêm cơ tim

4.1 Các dấu hiệu viêm cơ tim thường gặp

Viêm cơ tim nhẹ thường không có triệu chứng gì đáng chú ý. Người bệnh có thể cảm thấy ốm yếu, mệt mỏi và có các triệu chứng chung của cơ thể khi nhiễm virus, sau đó tự khỏi mà không hề nhận biết được mình đã bị viêm cơ tim.

Trong những trường hợp viêm nặng, người bệnh có thể gặp nhiều triệu chứng và dấu hiệu khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, bao gồm:

- Tức ngực

- Nhịp tim nhanh bất thường

- Khó thở ngay cả khi đang ngồi nghỉ ngơi hoặc trong quá trình vận động

- Phù nề (tích nước) ở chân, sưng mắt cá chân và bàn chân

- Cảm giác mệt mỏi

- Dấu hiệu và triệu chứng khác như đau đầu, đau nhức cơ thể, đau khớp, sốt, đau họng và tiêu chảy.

  • Viêm cơ tim ở trẻ em thường là bệnh viêm cơ tim cấp tính với các triệu chứng tiến triển nhanh và rõ rệt hơn bao gồm: Sốt, ngất xỉu, khó thở, nhịp thở nhanh và nhịp tim nhanh bất thường.

Tiếng tim mờ là triệu chứng xuất hiện sớm và có giá trị trong chẩn đoán
Tiếng tim mờ là triệu chứng xuất hiện sớm và có giá trị trong chẩn đoán

3.2 Cận lâm sàng

  • Tốc độ lắng máu là một trong các xét nghiệm phát hiện phản ứng viêm có thể tăng trong viêm cơ tim. Tuy nhiên tốc độ lắng máu có thể tăng ở rất nhiều tình trạng viêm và không do viêm khác. Đây là một xét nghiệm không đặc hiệu.
  • Men tim như creatine phosphokinase, lactate dehydrogenase, troponine T, CK-MB, SGOT (AST), SGPT (ALT) có thể tăng khi viêm cơ tim cấp và mạn tính. Tuy nhiên nếu các men này là âm tính cũng không loại trừ được tình trạng viêm cơ tim.
  • Kỹ thuật khuếch đại chuỗi polymerase (PCR: Polymerase Chain Reaction) có thể phát hiện được bộ gen của virus ở trong tế bào cơ tim nhưng lại không phát hiện được ở máu ngoại vi. Kỹ thuật này xác định được loại virus gây bệnh.
  • Siêu âm tim phát hiện chức năng co bóp của cơ tim bị giảm rõ và thường xuất hiện tràn dịch màng ngoài tim, hở van hai lá và không có tổn thương của mạch vành cũng như các bất thường bẩm sinh khác.
  • Viêm cơ tim có thể được phát hiện bằng sinh thiết nội tâm mạc. Kỹ thuật này thường thực hiện bằng thông tim. Sinh thiết nội tâm mạc cho biết các nguyên nhân khác của bệnh cơ tim như bệnh tích trữ, khiếm khuyết ty lạp thể.
    • Điện tim: Thay đổi điện tim có thể bao gồm: Rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất, block nhĩ thất độ I, II, III hoặc rối loạn dẫn truyền trong thất (block nhánh bó His). Các rối loạn nhịp tim,
    • Tuy nhiên, bất thường phổ biến nhất được thấy trong viêm cơ tim là nhịp tim nhanh xoang với đoạn ST không đặc hiệu và thay đổi sóng T.
  • X-quang tim:
    • Tim to toàn bộ và to rất nhanh.
    • Biểu hiện ứ trệ tuần hoàn ở phổi.
    • Sau điều trị, điện tim trở về bình thường.
  • Chẩn đoán phân biệt

Một số bệnh có biểu hiện giống viêm cơ tim cấp là thiếu hụt carnitine, khiếm khuyết ty lạp thể do di truyền, bệnh cơ tim giãn vô căn, viêm ngoại tâm mạc, xơ chun hóa nội tâm mạc, các bất thường về động mạch vành.

Do vậy, bác sĩ khuyên khi người bệnh có các triệu chứng của viêm cơ tim cấp nên đến bệnh viện để được khám bệnh sớm, không chủ quan mua thuốc tự điều trị. Khi đến thăm khám tại bệnh viện, các bác sĩ sẽ đo điện tim, siêu âm tim kết hợp với các triệu chứng lâm sàng chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời cho bệnh nhân.