......

Chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ

áp lực nội sọ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Trần Công Trình - Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh - Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Hẹp mạch nội sọ là hẹp các động mạch bên trong não. Sự tích tụ mảng bám do xơ vữa động mạch bên trong thành động mạch làm giảm lưu lượng máu đến não và gây ra đột quỵ. Các phương pháp điều trị nội khoa chủ yếu là cải thiện các yếu tố nguy cơ, giảm sự tích tụ mảng bám và ngăn ngừa cục máu đông trong khi nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ là cách thức triệt để làm tái lưu thông tức thời.

1. Hẹp mạch nội sọ là gì?

Hẹp mạch nội sọ là hẹp các động mạch quan trọng bên trong hộp sọ - các mạch máu có vai trò chính cung cấp máu cho nhu mô não. Hẹp mạch nội sọ có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nào. Các khu vực điển hình mà hẹp động mạch xảy ra là ở động mạch cảnh trong, động mạch não giữa, động mạch đốt sống và động mạch nền.

Nguyên nhân gây hẹp mạch máu là do sự tích tụ các mảng bám trên thành mạch, là hệ quả của quá trình xơ vữa động mạch. Hẹp mạch nội sọ có thể làm hạn chế lưu lượng máu đến các khu vực của não, làm tăng nguy cơ xảy ra đột quỵ bất cứ lúc nào, nhất là ở người lớn tuổi khi xơ vữa động mạch đủ nghiêm trọng để gây ra các triệu chứng. Ngoài ra, các yếu tố rủi ro khác của ở hẹp mạch nội sọ cũng tương tự như các bệnh lý tim mạch do xơ vữa, bao gồm tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, bệnh đái tháo đường, béo phì, hút thuốc và sử dụng các dạng thuốc lá khác, tiền sử gia đình bị xơ vữa động mạch, thiếu vận động...

Triệu chứng chính của hẹp mạch nội sọ là có một cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ. Người bệnh bị đột ngột nhức đầu dữ dội, tê liệt hoặc yếu ở một bên của cơ thể, khó nói, méo miệng... và tình trạng nặng có thể là lơ mơ, hôn mê.

Việc chẩn đoán hẹp nội sọ ngoài các dấu hiện trên còn dựa vào các xét nghiệm hình ảnh học sọ não như chụp cắt lớp vi tính dựng hình mạch máu, chụp cộng hưởng từ, siêu âm doppler xuyên sọ. Đồng thời, các xét nghiệm máu cơ bản cũng cần thiết để xác định các yếu tố nguy cơ, từ đó giúp bác sĩ điều trị lập kế hoạch kiểm soát lâu dài.

Về điều trị hẹp mạch nội sọ, mục tiêu cần đặt ra là làm giảm nguy cơ đột quỵ. Bác sĩ sẽ đưa ra chiến lược điều trị dựa trên các yếu tố như kích thước tắc nghẽn và nguy cơ bị đột quỵ cơn đầu tiên hoặc đột quỵ tái phát, bao gồm:

  • Điều trị nội khoa: Thuốc có thể được sử dụng để giảm thiểu các yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như giảm cholesterol và ổn định huyết áp. Các thuốc chống hình thành huyết khối, chẳng hạn như aspirin, có thể được khuyến cáo để ngăn ngừa quá trình đông máu trong động mạch bị hẹp.
  • Điều trị can thiệp: Nếu có tắc nghẽn lớn và nguy cơ đột quỵ cao, bác sĩ có thể đề nghị can thiệp ngoại khoa, gồm có nong và đặt stent qua đường nội mạch, phẫu thuật cắt bỏ nội mạc để loại bỏ mảng bám từ động mạch bị hẹp và phẫu thuật bắc cầu mạch máu.
Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI)
Chụp cộng hưởng từ chp phép chẩn đoán hẹp mạch nội sọ

2. Chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ là gì?

Mục đích của những can thiệp ngoại khoa trong tình trạng hẹp mạch nội sọ là ngăn ngừa đột quỵ bằng cách loại bỏ hoặc giảm sự tích tụ mảng bám, mở rộng lòng động mạch để cho phép lưu lượng máu đến não nhiều hơn. Trong đó, nong đặt khung giá đỡ thông qua chụp số hóa xóa nền là một thủ thuật nội mạch xâm lấn tối thiểu để nén các mảng bám áp sát thành mạch và mở rộng đường kính của động mạch.

Khái niệm "nội mạch” có nghĩa là thủ thuật được thực hiện bên trong động mạch với một ống thông có kích thước nhỏ và tính linh hoạt cao. Ống thông sẽ được đưa xuyên qua động mạch đùi ở bẹn trong quá trình chụp động mạch xóa nền. Sau đó, ống thông được đưa đến nơi động mạch nội sọ bị hẹp. Một quả bóng nhỏ sẽ được bơm từ từ phồng lên tối đa ngay tại vị trí động mạch bị hẹp để làm tăng đường kính lòng mạch bằng cách nén các mảng bám xơ vữa áp sát vào thành động mạch.

Mục tiêu của thủ thuật này là để giảm hẹp lòng mạch xuống dưới 50%, vì một sự gia tăng nhỏ của đường kính mạch dẫn đến sự gia tăng rất lớn lưu lượng máu đến não. Bong bóng sau đó bị xì hơi và loại bỏ, một ống giống như khung giá đỡ sẽ tự động mở rộng ra được gọi là stent, đặt trên các mảng bám để đảm bảo duy trì mở rộng lòng động mạch. Khung giá đỡ vẫn còn trong lòng động mạch vĩnh viễn và người bệnh sẽ được điều trị các thuốc giúp ngăn chặn huyết khối trong khung suốt đời.

Việc chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ thường được chỉ định cho những bệnh nhân bị hẹp động mạch nội sọ mức độ nặng là hơn 70%, có các cơn thoáng thiếu máu não tái phát hoặc các triệu chứng đột quỵ lặp lại mặc dù đã điều trị bằng thuốc. Can thiệp này có thể làm giảm mức độ hẹp lòng mạch xuống dưới 30% mà không có biến chứng nào ở tỷ lệ là 60 đến 80% bệnh nhân.

chụp mạch số hóa xóa nền
Chụp số hóa xóa nền giúp giảm hẹp lòng mạch xuống dưới 50%

3. Quy trình chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ

Vì là một kỹ thuật tinh vi, cần độ tinh xảo ra, người bệnh và thân nhân cần được giải thích kỹ lưỡng về quy trình thủ thuật chuẩn bị xảy ra, cũng như các rủi ro đi kèm, để yêu cầu hợp tác. Kế tiếp, người bệnh cần phải nhịn ăn, thay trang phục phù hợp và sắp xếp nằm ngửa trên bàn can thiệp, đặt đường truyền tĩnh mạch với dung dịch nước muối sinh lý 0,9%. Các phương tiện theo dõi nhịp thở, mạch, huyết áp, điện tâm đồ, SpO2 được gắn trên người bệnh và các chỉ số hiện trên màn hình để dễ quan sát. Sau khi vệ sinh vùng bẹn và sinh dục, bác sĩ sẽ phủ khăn lỗ vô khuẩn tại vùng chuẩn bị can thiệp. Trong trường hợp người bệnh quá kích thích và hợp tác kém thì cần cân nhắc chỉ định thuốc an thần để quá trình dễ thực hiện.

Tại vị trí can thiệp, bác sĩ sẽ tiến hành gây tê tại chỗ thông thường trong hầu hết các trường hợp là từ động mạch đùi, trừ khi đường vào này không làm được mới sử dụng các đường vào khác. Khi thuốc tê có tác dụng, bác sĩ sẽ chọc kim và luồn ống nong vào lòng động mạch. Dưới màn hình chụp số hóa xóa nền và thuốc cản quang, bác sĩ điều chỉnh và đưa ống thông tới hệ tuần hoàn động mạch nội sọ, tìm kiếm đoạn hẹp có chỉ định can thiệp.

Khi tiếp cận được vị trí và xác định được các đặc điểm cần thiết của đoạn động mạch bị hẹp trên chụp DSA, bác sĩ sẽ tiến hành đưa vi ống thông và dây dẫn qua chỗ hẹp. Tiếp theo, bóng nong chỗ hẹp sẽ được từ từ bơm căng phồng lên, lòng mạch được mở rộng. Sau đó, khi bóng được làm xẹp, một khung giá đỡ bằng kim loại sẽ được đưa lên qua chỗ hẹp, bung khung giá đỡ tương ứng với vị trí hẹp.

Cuối cùng, bác sĩ sẽ nhận định kết quả đã đạt yêu cầu hay chưa là dựa vào hình ảnh chụp DSA vị trí khung giá đỡ tại đoạn động mạch bị hẹp, khung mở hoàn toàn và cho phép lòng mạch được tái thông tốt. Nếu độ dày mảng bám lớn, có thể cho phép lòng mạch còn hẹp không hoàn toàn với mức độ hẹp là không quá 30%. Đồng thời, bác sĩ cũng sẽ kiểm tra đoạn mạch trước, trong và sau đoạn tái thông lưu thông bình thường, không có dấu hiệu huyết khối hay bóc tách thành mạch. Lúc này, các dụng cụ can thiệp sẽ được rút ra ngoài. Vị trí động mạch chọc dò sẽ được đè ép trực tiếp bằng tay khoảng 15 phút để cầm máu và sau đó băng ép trong 8 giờ. Trong khoảng thời gian này, người bệnh chỉ được cử động hạn chế tại giường.

Chỉ định chụp DSA mạch não
Dựa vào hình ảnh chụp DSA, bác sĩ xác định được kết quả của quá trình can thiệp

4. Biến chứng có thể gặp phải trong chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ

Cũng giống như bất kỳ thủ thuật can thiệp nội sọ nào, việc chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ cũng có thể ẩn chứa các rủi ro nhất định, bao gồm:

  • Thủng động mạch
  • Di lệch khung giá đỡ
  • Tổn thương niêm mạc gây ra bóc tách động mạch
  • Xuất huyết não
  • Đột quỵ do tắc nghẽn động mạch
  • Các biến chứng đối với gây tê hay sử dụng thuốc đối quang
  • Nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ khi chụp DSA
Gây tê
Bệnh nhân có thể gặp phải biến chứng do gây tê trong chụp số hóa xóa nền và nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ

Tóm lại, hẹp mạch nội sọ là một trong các biểu hiện của bệnh tim mạch do xơ vữa. Việc điều trị hẹp mạch nội sọ, bên cạnh các thuốc kiểm soát dài hạn yếu tố nguy cơ, nong đặt khung giá đỡ hẹp mạch nội sọ là một can thiệp nội mạch sẽ được chỉ định trong các trường hợp đột quỵ tái phát hay mức độ hẹp nặng. Với những ưu điểm can thiệp tối thiểu nhưng hiệu quả tái thông tốt, tuần hoàn não sẽ cải thiện, giảm thiểu biến cố xảy ra cho người bệnh.

Trước khi nhận công tác tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park, vị trí Bác sĩ khoa Chẩn đoán hình ảnh từ tháng 09/2017, Bác sĩ Trần Công Trình từng làm việc tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ năm 2007-2017. Trong vai trò của mình, Bác sĩ Trần Công Trình đã tham gia hướng dẫn giảng dạy các sinh viên, Bác sĩ nội trú, chuyên khoa và các bác sĩ mới vào khoa

Để thăm khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý khách vui lòng đến trực tiếp Hệ thống Y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

307 lượt đọc

Bài viết liên quan