......

Nhận diện các loại viêm kết mạc mắt

Làm thế nào khi bị viêm kết mạc mãn tính

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Hoàng Thanh Nga - Bác sĩ Mắt - Khoa khám bệnh và Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long.

Bệnh viêm kết mạc mắt là bệnh lý thường gặp gây ra cảm giác khó chịu ở mắt và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày. Đây là một bệnh không quá nguy hiểm nhưng nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm. Việc nhận diện các loại viêm kết mạc giúp cho việc phòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả tốt.

1. Bệnh viêm kết mạc mắt là gì?

Kết mạc được định nghĩa là một màng mỏng trong suốt có chứa các mạch máu, bao phủ lên củng mạc của nhãn cầu (lòng trắng) và mặt trong của sụn mi, tạo thành hai túi cùng đồ trên và dưới. Khi viêm kết mạc cấp tính, các mạch máu tại vị trí kết mạc sung huyết làm cho kết mạc phù và đỏ, vì vậy người ta thường gọi bệnh viêm kết mạc cấp là đau mắt đỏ.

Bệnh có thể xuất hiện vào tất cả các thời điểm trong năm, nhưng thường có những đợt bùng phát thành dịch vào những thời điểm giao mùa.

Viêm kết mạc cấp tính liên quan đến các bệnh lý nghiêm trọng như:

  • Giảm thị lực hoặc độ nhạy ánh sáng do thâm nhiễm dưới biểu mô dai dẳng (giác mạc viêm tích tụ).
  • Chảy nước mắt mãn tính (chảy nước mắt quá mức và thường xuyên) từ các vấn đề do thoát lệ đạo.
  • Giảm hoặc mất thị lực do kết mạc co rút và kết mạc bị dính một phần hay toàn phần (sẹo kết mạc).
Giải phẫu mắt, cấu tạo mắt
Vị trí của kết mạc mắt trên sơ đồ thiết ngang giải phẫu mắt

2. Các loại viêm kết mạc mắt

2.1. Viêm kết mạc do vi khuẩn

Viêm kết mạc do vi khuẩn như enterobacteriaceae, phế cầu, tụ cầu vàng, não mô cầu... Vi khuẩn từ bụi bặm, dụng cụ, tay bẩn ô nhiễm vào mắt hoặc viêm nhiễm ở cơ quan khác lan đến vùng kết mạc mắt.

Triệu chứng bệnh điển hình:

  • Cộm mắt như có sạn, bỏng rát và nhiều tiết tố dẫn đến tình trạng khó mở mắt vào buổi sáng khi ngủ dậy, xuất hiện ở một mắt, sau đó lan sang mắt thứ 2 do tiết tố lây sang.
  • Mi mắt sưng nề và đóng vẩy khô do tiết tố bám. Chất xuất tiết ban đầu có dạng nước loãng giống như tiết tố trong các viêm do virus, sau chuyển sang dạng mủ nhày.
  • Kết mạc cương tụ đỏ rõ nhất ở cùng đồ và nhạt dần khi ra đến vùng rìa. Trường hợp nặng có thể xuất hiện màng giả trên kết mạc.Giác mạc ít khi bị thâm nhiễm, mặc dù trong những trường hợp nặng có thể thấy chấm nông giác mạc và thẩm lậu vùng rìa.

2.2. Viêm kết mạc do virus

  • Viêm kết mạc do Adenovirus

Bệnh thường lây lan trực tiếp qua tiếp xúc với tiết tố từ mắt người bệnh hoặc qua đường hô hấp và có thể truyền bệnh do dùng chung khăn mặt hoặc sử dụng chung các dụng cụ khám mắt như dụng cụ đo nhãn áp.

Khăn mặt
Người bị viêm kết mạc do virus có thể do sử dụng chung khăn mặt

Về lâm sàng có 2 thể bệnh:Thể sốt viêm kết mạc họng hạch

  • Thường do virus type 3 và 7;
  • Sốt nhẹ, đau họng và có thể nổi hạch trước tai, người mệt mỏi;
  • Mi mắt sưng và cảm giác nặng mi;
  • Cảm giác cộm như rắc cát vào mắt, sau đó mắt sưng nề nhanh chóng;
  • Tiết tố nước trong và dính;
  • Kết mạc đỏ rực, phù mọng, nhiều khi xuất huyết và thấy xuất hiện nhiều hột to xếp thành dãy ở cùng đồ;
  • Giác mạc ít bị viêm (khoảng 30% các trường hợp và thường rất nhẹ).

Thể viêm kết - giác mạc dịch

  • Nguyên nhân do virus type 8 và 19 và ít kèm theo triệu chứng toàn thân.
  • Biểu hiện giác mạc nặng hơn nhiều với 3 giai đoạn:
  • Giai đoạn 1: Trong vòng 7 ngày sau khi bệnh khởi phát: trên giác mạc xuất hiện những chấm viêm biểu mô tỏa lan, thường khỏi sau khoảng 2 tuần.
  • Giai đoạn 2: Sau khi bệnh khởi phát 1 tuần, biểu hiện bởi viêm giác mạc đốm tạm thời, có thể mất hoàn toàn sau khi điều trị.
  • Giai đoạn 3: Xuất hiện các ổ thẩm lậu giác mạc dạng đốm dưới biểu mô. Nếu không được điều trị, các ổ viêm này sẽ tồn tại hàng tháng hoặc hàng năm sau gây giảm thị lực.

  • Viêm kết mạc do virus herpes:

Thường xuất hiện ở những người lần đầu nhiễm virus herpes, biểu hiện là trên da mi và da vùng quanh mi mắt xuất hiện những nốt mụn phỏng, kèm theo phù đỏ vùng da quanh đó, tiết tố kết mạc loãng như nước, kết mạc cùng bên cương tụ, có phản ứng hột;

Viêm kết mạc do virus herpes
Hình ảnh viêm kết mạc do virus herpes

  • Viêm kết mạc do dị ứng

Viêm kết mạc dị ứng cấp: Cơ chế bệnh sinh là do phản ứng viêm cấp tính ngay sau khi tiếp xúc với các dị nguyên. Mi mắt và kết mạc đôi khi sưng phù làm người bệnh cảm thấy lo sợ, tuy nhiên, tình trạng này thường kéo dài trong vài giờ và có thể tự giới hạn.

Viêm kết mạc dị ứng theo mùa hoặc quanh năm: Tình trạng dị ứng xảy ra nặng hơn theo mùa (thường là mùa xuân hay hè của các nước ôn đới) hoặc có thể xuất hiện quanh năm và kèm theo viêm mũi dị ứng.

Viêm kết mạc dị ứng mùa xuân: Đây là một thể bệnh đặc biệt, thường xuất hiện ở trẻ trai từ 5 - 7 tuổi, có tiền sử bị chàm, có tiền căn dị ứng trong gia đình. Bệnh lý này có thể gây tổn thương giác mạc, gây ảnh hưởng thị lực.

Dị ứng kết - giác mạc: Thường xuất hiện ở người trưởng thành, có tiền sử mắc bệnh chàm hay hen suyễn. Viêm kết mạc dị ứng thể này biểu hiện quanh năm, ngoài kết mạc, gây ra tổn thương mi mắt (sưng, vảy da mi, sừng da mi) và giác mạc kèm theo làm giảm thị lực.

Viêm kết mạc dị ứng nhú gai khổng lồ: Đây là thể bệnh do sự tiếp xúc cơ học trực tiếp của kết mạc mi với những dị vật như kính áp tròng, mắt giả, chỉ khâu... gây tổn thương dạng nhú to ở mi mắt thấy được qua thăm khám trên lâm sàng.

  • Viêm kết mạc do nhiễm độc

Các chất axit, kiềm, chất độc hoá học, thuốc atropine đều là những tác nhân gây kích thích mạnh gây viêm kết mạc thậm chí giảm thị lực, tổn thương cả giác mạc.

  • Viêm kết mạc do nấm

Viêm kết mạc do nấm thường kèm theo triệu chứng loét giác mạc do nấm Candida albicans, Aspergillus,...

Aspergillus
Nấm Aspergillus là một trong các loại nấm gây tình trạng viêm kết mạc hiện nay

  • Ký sinh trùng gây viêm kết mạc

Viêm kết mạc do ký sinh trùng như chấy rận. Đây là thể bệnh viêm kết mạc hiếm gặp trên lâm sàng.

  • Viêm kết mạc và giác mạc do Chlamydia ở người trưởng thành

Đây bệnh lây theo đường sinh dục, ít gặp lây theo đường tiếp xúc mắt sang mắt, chủ yếu gặp ở người trẻ và ít nhất 50% trong số họ có kèm theo nhiễm khuẩn đường sinh dục kín đáo, không có triệu chứng. Bệnh xuất hiện có tính bán cấp ở một hoặc hai mắt và có tiết tố mủ nhày, phù mi nhẹ, xuất tiết dạng mủ nhày, nhú phì đại ở kết mạc sụn mi trên, sau đó hình thành hột rất to chủ yếu ở cùng đồ mi dưới, nhưng cũng có thể cả ở kết mạc sụn mi trên. Giác mạc hiếm khi bị tổn thương, nếu có thường biểu hiện dưới dạng viêm chấm nông biểu mô, đôi khi thẩm lậu dưới biểu mô và quanh rìa.

Trường hợp bệnh kéo dài, các hột sẽ giảm dần thay thế bằng sẹo mịn ở kết mạc và màng máu mỏng trên giác mạc.

3. Phân biệt bệnh viêm giác mạc và viêm kết mạc

3.1. Về nguyên nhân

Điểm chung của cả viêm kết mạc và viêm giác mạc đều xuất phát từ 3 nguyên nhân chính là vi khuẩn, virus và dị ứng.

Với viêm kết mạc nguyên nhân hàng đầu gây viêm kết mạc lại chỉ chủ yếu nằm ở 3 nhóm tác nhân chính là vi khuẩn, virus và dị ứng còn những thể bệnh khác khá hiếm gặp. Trong số đó, gần 80% số ca mắc bệnh viêm kết mạc do virus xuất phát từ Adenovirus. Tuy nhiên, viêm giác mạc còn có thể bắt nguồn từ các chứng bệnh như viêm khớp, hội chứng Sjogren hoặc các rối loạn chuyển hóa khác.

3.2. Về triệu chứng bệnh

Cả viêm kết mạc và viêm giác mạc đều có chung những triệu chứng như chảy nước mắt, mắt đỏ và mí mắt sưng lên.

Viêm giác mạc
Bệnh viêm giác mạc gây tình trạng đỏ mắt và sưng mí mắt ở người bệnh

Tuy nhiên, nếu tác nhân gây bệnh chỉ đơn thuần là vi khuẩn hoặc bệnh lý thì viêm giác mạc sẽ chỉ biểu hiện bệnh ở một bên mắt. Trong khi đó, dấu hiệu phổ biến nhất của bệnh viêm kết mạc có lẽ là việc nhãn cầu bị đỏ và tiết ra nhiều dịch màu vàng. Ngoài ra còn có cảm giác cộm ở mắt, ngứa hai bờ mi và kèm theo một số hội chứng như sốt nhẹ, nổi hạch, phù mi, xuất hiện giả mạc... Bệnh có thể biểu hiện ở một hoặc cả hai bên mắt và có nhiều biến chứng cũng như triệu chứng khác nhau tùy vào tác nhân gây bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh lý thần kinh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

17.8K

Bài viết liên quan