Viêm cầu thận mạn là gì? Bệnh hình thành như thế nào?

25/06/2019
Thận

Viêm cầu thận mạn là bệnh gây tổn thương cầu thận, tiến triển từ từ trong vòng nhiều năm. Giai đoạn cuối của bệnh dẫn đến suy thận mạn ngày càng nặng dần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Viêm cầu thận mạn là bệnh gây tổn thương cầu thận, tiến triển từ từ trong vòng nhiều năm.

1. Định nghĩa viêm cầu thận mạn là gì?

Viêm cầu thận mạn tính là một quá trình tổn thương thực thể xảy ra ở tất cả các cầu thận của hai bên thận, bao gồm các tình trạng tăng sinh, phù nề, xuất tiết và hoại tử hyalin, xơ hóa một phần hoặc toàn bộ cầu thận. Bệnh tiến triển mạn tính từ từ qua nhiều tháng, nhiều năm dẫn đến xơ teo cả hai thận.

Biểu hiện lâm sàng của viêm cầu thận mạn đa dạng, triệu chứng thường gặp là: phù, protein niệu, hồng cầu niệu, tăng huyết áp. Bệnh diễn biến thành từng đợt, sau 10-15 năm sẽ xuất hiện suy thận mạn tính không hồi phục.

Ngày nay, viêm cầu thận mạn được coi như là một hội chứng - đó là hội chứng viêm cầu thận mạn tính. Hội chứng viêm cầu thận mạn tính có thể gặp trong nhiều thể tổn thương mô bệnh học khác nhau.

Các thể tổn thương mô bệnh học như viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, viêm cầu thận màng, viêm cầu thận màng tăng sinh, xơ hóa cầu thận ổ, viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch đều có thể diễn biến khái quát giống nhau. Nhưng tỷ lệ giữa các hội chứng lâm sàng thì lại khác nhau. Có những thể tổn thương mô bệnh học biểu hiện lâm sàng chủ yếu là hội chứng thận hư, nhưng thể khác lại biểu hiện bằng protein niệu và hồng cầu niệu mà không có triệu chứng lâm sàng.

Bệnh lý cầu thận mạn gồm có 4 hình thái lâm sàng:

  • Hội chứng viêm cầu thận cấp tính.
  • Hội chứng viêm cầu thận mạn tính.
  • Hội chứng thận hư.
  • Biến đổi bất thường ở nước tiểu (protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng).

Bốn hình thái lâm sàng trên biến đổi luân phiên trong quá trình tiến triển của bệnh, kéo dài hàng tháng, hàng năm và hậu quả cuối cùng đó là suy thận mạn tính.

2. Bệnh viêm cầu thận mạn hình thành như thế nào?

Thận
Có nhiều trường hợp viêm cầu thận mạn không rõ nguyên nhân khởi đầu

2.1. Viêm cầu thận mạn không rõ căn nguyên

Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch: Đặc điểm mô bệnh học của bệnh viêm cầu thận tăng sinh gian mạch là tăng sinh tế bào gian mạch, tăng sinh tế bào nội mô mạch máu, tăng sinh tổ chức gian mạch. Ngày nay, người ta thấy rằng viêm cầu thận tăng sinh gian mạch phần lớn là bệnh lý cầu thận do IgA, hay còn gọi là bệnh Berger. Chỉ có khoảng 10% viêm cầu thận tăng sinh gian mạch biểu hiện bằng hội chứng thận hư, số khác biểu hiện lâm sàng thường gặp là hội chứng viêm cầu thận cấp, hội chứng viêm cầu thận mạn và protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.

Viêm cầu thận tăng sinh ổ, đoạn: Tình trạng viêm này xảy ra ở một phần của cầu thận hoặc toàn bộ cầu thận, có cầu thận bị tổn thương nằm xen lẫn giữa những cầu thận còn nguyên vẹn. Đa số viêm cầu thận tăng sinh ổ, đoạn là bệnh lý cầu thận do IgA. Biểu hiện lâm sàng là tiểu ra máu chu kỳ, xảy ra sau một nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và protein niệu ≈ 1g/24h, thường không có phù, không tăng huyết áp.

Xơ hóa cầu thận ổ, đoạn: Đặc điểm mô bệnh học là xơ hóa, hyalin hóa một phần hoặc toàn bộ cầu thận mà không hề có hiện tượng tăng sinh tế bào. Tổn thương đầu tiên xuất hiện ở các cầu thận vùng cận tủy lan dần ra toàn bộ vùng vỏ. Các cầu thận tổn thương nằm xen lẫn giữa các cầu thận bình thường. Trong kẽ thận có hiện tượng teo ống thận, xâm nhập tế bào viêm cục bộ, miễn dịch huỳnh quang( +) với IgM và C3 ở vùng tổn thương. Có khoảng 90% các trường hợp xơ hóa cầu thận ổ, đoạn biểu hiện bằng hội chứng thận hư.

Viêm cầu thận màng: Đặc điểm mô bệnh học của bệnh là dày màng nền cầu thận do phức hợp miễn dịch lắng đọng ở phía ngoài của màng nền cầu thận dưới bề mặt biểu mô, dày màng nền đơn thuần, không có hiện tượng tăng sinh tế bào cầu thận. Có khoảng 80% các trường hợp viêm cầu thận màng có biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng thận hư, số còn lại biểu hiện bằng hội chứng viêm cầu thận mạn hoặc protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.

Viêm cầu thận màng tăng sinh: Đặc điểm mô bệnh học là tăng sinh các tế bào gian mạch, tổ chức gian mạch kết hợp với các ổ lắng đọng phức hợp miễn dịch trong và ngoài màng nền dưới tế bào biểu mô, trong gian mạch và cả trên màng nền. Có khoảng 60% các trường hợp viêm cầu thận màng tăng sinh có hội chứng thận hư, số còn lại biểu hiện lâm sàng dưới dạng hội chứng viêm cầu thận mạn, hội chứng viêm cầu thận cấp hoặc protein niệu, hồng cầu niệu không có triệu chứng lâm sàng.

Viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch: Biểu hiện lâm sàng của bệnh chủ yếu là viêm cầu thận cấp, dấu hiệu nổi bật nhất là thiểu niệu, suy thận cấp tiến triển thành từng đợt. Bệnh tiến triển dẫn đến suy thận mạn tính không hồi phục, bệnh nhân thường tử vong trong vòng 6 tháng đến 2 năm. Viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch còn gọi là viêm cầu thận tiến triển nhanh, hay còn gọi là viêm cầu thận ác tính.

2.2. Viêm cầu thận mạn thứ phát

Viêm cầu thận mạn thứ phát xảy ra sau nhiều bệnh lý nội khoa khác nhau. Nguyên nhân của viêm cầu thận mạn rất đa dạng, phong phú. Nguyên nhân chủ yếu là do: Bệnh lý cầu thận do Collagenose:

  • Lupus ban đỏ hệ thống: Là một bệnh tự miễn, thường gặp ở phụ nữ, rất hiếm gặp ở nam giới. Khoảng 80-100% có viêm cầu thận mạn tính và có hội chứng thận hư. Đại bộ phận bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống bị tử vong do suy thận giai đoạn cuối.
Lupus ban đỏ hệ thống
Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống thường bị tử vong do suy thận giai đoạn cuối

Xơ cứng bì toàn thể: Tổn thương nhiều cơ quan, trong đó có thận.

  • Bệnh viêm đa cơ và da-cơ
  • Bệnh tổ chức liên kết hỗn hợp: Xơ cứng bì kết hợp với luput ban đỏ hệ thống, viêm da-cơ.

Tổn thương cầu thận do bệnh lý mạch máu:

  • Viêm các vi mạch máu nhỏ dạng nút.
  • Bệnh u hạt Wegener
  • Xuất huyết dạng thấp.

Hội chứng Goodpasture:

Biểu hiện lâm sàng là khái huyết, có thể khái huyết ồ ạt dẫn đến tử vong, kết hợp với viêm cầu thận mạn và thường là viêm cầu thận tăng sinh ngoài mao mạch.

Đái tháo đường: Biểu hiện lâm sàng là hội chứng viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư, xơ tiểu động mạch thận- thận lành tính hoặc xơ hóa động mạch thận- thận ác tính. Suy thận giai đoạn cuối là một trong những nguyên nhân gây tử vong của bệnh đái tháo đường.

Viêm cầu thận do nhiễm khuẩn:

  • Viêm cầu thận do các virus viêm gan
  • Viêm màng trong tim bán cấp( bệnh osler)
  • Viêm cầu thận mạn tính do sốt rét, bệnh phong, giang mai.

Viêm cầu thận do nhiễm độc:

  • Nhiễm độc muối vàng
  • Nhiễm độc penicillamin.

Viêm cầu thận mạn do lắng đọng các protein bất thường:

  • Bệnh thận do chuỗi nhẹ
  • Bệnh thận do chuỗi nặng.
  • Bệnh Waldenstrom bệnh đại phân tử globulin
  • Amyloidosis tiên phát và amyloidosis thứ phát.

Bệnh cầu thận do các bệnh lý ác tính:

Bệnh bạch cầu cấp, bạch cầu mạn, sarcoma hạch, bệnh Kahler.

3. Phòng bệnh viêm cầu thận

Đánh răng
Vệ sinh miệng họng sạch sẽ cũng là một cách phòng bệnh

Vệ sinh họng miệng sạch sẽ, đánh răng đúng cách và đều đặn cũng là một cách để phòng bệnh. Để phòng bệnh viêm cầu thận mạn bạn cần lưu ý những điều sau:

  • Khi nghi ngờ mắc bệnh bạn cần đi khám tại các cơ sở y tế uy tín ngay.
  • Không để mắc các bệnh về viêm họng, mụn nhọt, chốc lở ( đây là các nguyên nhân gây viêm cầu thận cấp tính).
  • Cần vệ sinh họng miệng luôn sạch sẽ, đánh răng đúng cách và đều đặn.
  • Cần vệ sinh cá nhân sạch sẽ để tránh các bệnh về da ( mụn, nhọt...)
  • Tiêm phòng vắc xin viêm gan B, không dùng chung bơm kim tiêm.
  • Khám bệnh định kỳ 6 tháng/lần.

Mong rằng những thông tin trên đây giúp bạn có thể hiểu hơn về bệnh viêm cầu thận mạn cũng như nguyên nhân gây bệnh. Bạn cũng nên thăm khám sức khỏe định kỳ để có thể phát hiện bệnh lý sớm nhất và điều trị tránh những điều xấu xảy ra.

XEM THÊM: