......

Các yếu tố nguy cơ của ung thư xương

Các yếu tố nguy cơ của ung thư xương

Ung thư xương phát triển trong hệ thống xương và phá hủy mô, nó có thể lan đến các cơ quan ở xa, chẳng hạn như phổi. Nguyên nhân chính xác của ung thư xương vẫn đang được các nhà khoa học nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ tuyên bố rằng có một loạt các yếu tố nguy cơ gây ung thư xương, bao gồm cả di truyền. Vì vậy, nhận định được yếu tố nguy cơ gây bệnh sẽ giúp cho quá trình kiểm soát bệnh tốt hơn.

1. Ung thư xương là gì?

Ung thư xương thường ảnh hưởng nhất đến xương chậu hoặc xương dài ở cánh tay và chân. Tuy nhiên, bệnh này khá hiếm, có ít hơn 1% tất cả các bệnh ung thư. Trên thực tế ung thư xương không phổ biến như những bệnh ung thư khác.

Ung thư xương không bao gồm các bệnh ung thư bắt đầu ở các cơ quan khác và di căn đến xương. Thay vào đó, những bệnh ung thư sẽ được đặt tên theo nơi chúng bắt đầu, chẳng hạn như ung thư vú đã di căn vào xương.

Một số loại ung thư xương xảy ra chủ yếu ở trẻ em, trong như những loại khác lại ảnh hưởng chủ yếu ở người lớn. Nguyên nhân ung thư xương cho đến nay vẫn chưa được rõ ràng. Một số ít bệnh ung thư xương có liên quan đến các yếu tố di truyền, trong khi những bệnh ung thư khác thì lại liên quan đến các yếu tố như phơi nhiễm phóng xạ...

Ung thư xương có 3 loại phổ biến: Sacom sụn, ung thư mô liên kết Ewing, loạn sản xương.

Phẫu thuật loại bỏ là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh ung thư xương. Ngoài ra, còn có các phương pháp khác như hoá trị và xạ trị cũng được áp dụng.

2. Các yếu tố nguy cơ ung thư xương

Các yếu tố nguy cơ ung thư xương có thể kể đến bao gồm:

2.1 Tuổi

Nguy cơ mắc bệnh xương khớp là cao nhất đối với những người trong độ tuổi từ 10 đến 30, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển của thời kỳ thanh thiếu niên. Điều này cho thấy có thể có mối liên quan giữa sự phát triển xương nhanh và nguy cơ hình thành khối u. Ngược lại, nguy cơ mắc bệnh có thể giảm ở tuổi trung niên, nhưng tăng trở lại ở người cao tuổi (thường là trên 60 tuổi). Khối u xương ác tính ở người cao tuổi thường liên quan đến nguyên nhân khác, chẳng hạn như một bệnh xương dài.

10 - 30 tuổi là độ tuổi dễ mắc các bệnh về xương khớp nhất
10 - 30 tuổi là độ tuổi dễ mắc các bệnh về xương khớp nhất

2.2 Chiều cao

Trẻ em mắc bệnh khối u xương ác tính thường có chiều cao lớn hơn so với tuổi. Điều này cũng cho thấy rằng u xương có thể liên quan đến sự phát triển xương nhanh chóng.

2.3 Giới tính

Bệnh khối u xương ác tính thường phổ biến ở nam hơn nữ, bởi vì, ở nữ giới có xu hướng phát triển xương sớm hơn. Đồng thời, có thể là do chúng có xu hướng tăng trưởng sớm hơn nên nguy cơ ung thư xương cao hơn.

2.4 Chủng tộc

Bệnh khối u xương ác tính thường phổ biến ở những người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha/Latin hơn so với người da trắng.

2.5 Chất phóng xạ vào xương

Những người được điều trị bằng xạ trị cho một bệnh ung thư khác có thể có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư xương trong tương lai tại khu vực đã được điều trị bằng xạ trị. Trong trường hợp, những đối tượng được điều trị ở mức độ thấp với liều phóng xạ cao thì đều làm tăng nguy cơ bệnh ung thư xương.

Cho đến nay vẫn chưa có căn cứ khi thực hiện các xét nghiệm hình ảnh mà có sử dụng bức xạ, chẳng hạn như chụp X-quang, quét CT và quét xương, có làm tăng nguy cơ phát triển bệnh xương khớp hay không, đặc biệt là ung thư xương. Lượng bức xạ được sử dụng cho các xét nghiệm này thấp hơn nhiều lần so với lượng bức xạ được sử dụng cho quá trình xạ trị. Trong quá trình khám và chẩn đoán bệnh, các bác sĩ có thể cố gắng hạn chế sử dụng các loại xét nghiệm này đặc biệt là ở trẻ em.

Tiếp xúc với các chất phóng xạ như radium và strontium cũng có thể gây ung thư xương vì các khoáng chất này tích tụ trong xương. Bức xạ không ion hóa, như lò vi sóng, trường điện từ từ đường dây điện thoại, điện thoại di động và thiết bị gia dụng, không làm tăng nguy cơ ung thư xương.

Tiếp xúc với chất phóng xạ radium sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư xương
Tiếp xúc với chất phóng xạ radium sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư xương

2.6. Ghép tuỷ

Bệnh khối u xương ác tính đã được báo cáo ở một vài bệnh nhân đã từng trải qua cấy ghép tủy xương.

2.7. Một số bệnh về xương

Một số người mắc bệnh về xương không ung thư nhưng lại có nguy cơ phát triển bệnh khối u xương ác tính. Các bệnh đó là:

  • Bệnh Paget hay bệnh viêm xương biến dạng: Trong tình trạng này, mô xương bất thường hình thành ở một hoặc nhiều xương. Nó chủ yếu ảnh hưởng đến những người trên 50 tuổi. Xương bị ảnh hưởng nặng và dày lên nhưng yếu hơn so với xương bình thường. Thêm vào đó, những xương này có nhiều khả năng bị gãy. Thông thường tình trạng này không đe dọa đến tính mạng. Tuy nhiên, ung thư mô liên kết xương phát triển ở khoảng 1% số người mắc bệnh Paget với những người có xu hướng nhiều xương bị ảnh hưởng.
  • Di truyền nhiều bệnh xương khớp: Bệnh là một tình trạng di truyền gây ra nhiều vết sưng trên xương người. Những vết sưng này được làm chủ yếu từ sụn. Chúng có thể đau và biến dạng và / hoặc gãy xương. Rối loạn này được gây ra bởi một đột biến ở bất kỳ một trong 3 gen EXT1, EXT2 hoặc EXT3.

Bệnh xương khớp là khối u xương lành tính được hình thành bởi xương và sụn. Mỗi u xương khớp có nguy cơ phát triển thành sarcoma xương.

Hầu hết các bệnh về xương khớp có thể được chữa khỏi bằng phẫu thuật. Tuy nhiên, một số người được di truyền xu hướng phát triển nhiều bệnh xương khớp bắt đầu khi họ còn trẻ và có thể không thể loại bỏ tất cả. Khi càng có nhiều bệnh xương khớp, nguy cơ phát triển sarcoma xương càng lớn.

  • Hội chứng di truyền ung thư: Những người mắc một số hội chứng ung thư hiếm gặp, di truyền có nguy cơ phát triển bệnh xương khớp.

+ U nguyên bào võng mạc là bệnh ung thư mắt hiếm gặp ở trẻ em. Một số trẻ có dạng u nguyên bào võng mạc di truyền , trong đó tất cả các tế bào của cơ thể đều có đột biến trong gen RB1. Những đứa trẻ này cũng có nguy cơ phát triển sarcomas xương hoặc mô mềm, bao gồm cả xương. Nếu xạ trị được sử dụng để điều trị u nguyên bào võng mạc, nguy cơ mắc bệnh xương khớp ở xương quanh mắt thậm chí còn cao hơn.

Người mắc hội chứng Paget có nguy cơ mắc ung thư xương
Người mắc hội chứng Paget có nguy cơ mắc ung thư xương

+ Hội chứng Li-Fraumeni khiến mọi người có nhiều khả năng phát triển một số loại ung thư nhất định, bao gồm ung thư vú, khối u não, u xương, và các loại sarcoma khác. Hội chứng này thường được gây ra bởi một đột biến của gen TP53.

+ Trẻ em mắc hội chứng Rothmund-Thomson rất ngắn và có xu hướng gặp các vấn đề về da và xương. Họ cũng có nhiều khả năng phát triển xương. Hội chứng này thường được gây ra bởi những thay đổi bất thường trong gen REQL4.

+ Các tình trạng di truyền hiếm gặp khác, bao gồm hội chứng Bloom, hội chứng Werner và thiếu máu Diamond-Blackfan, cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh xương khớp.

Sàng lọc ung thư sớm được coi là biện pháp hoàn hảo trong việc phát hiện và điều trị kịp thời các loại ung thư. Giảm chi phí điều trị và nhất là giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec luôn triển khai và giới thiệu tới khách hàng GÓI KHÁM VÀ SÀNG LỌC UNG THƯ CÔNG NGHỆ CAO giúp xét nghiệm gen, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm các chất chỉ thị sinh học phát hiện khối u sớm. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có nhiều gói sàng lọc ung thư sớm.

  • Chỉ một lần xét nghiệm gen có thể đánh giá về nguy cơ mắc của 16 loại ung thư phổ biến ở cả nam và nữ (Ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư tuyến tụy, ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày, ung thư tiền liệt tuyến,....)
  • Phát hiện sớm các dấu hiệu manh nha của ung thư thông qua chẩn đoán hình ảnh, nội soi và siêu âm.
  • Thao tác khám đơn giản, cẩn thận và chính xác.
  • Đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản nghề, đặc biệt là về ung thư, đủ khả năng làm chủ các ca khám chữa ung thư.

Với trang bị cơ sở vật chất, thiết bị y tế tiên tiến và hiện đại và đội ngũ bác sĩ có chuyên môn sâu và kinh nghiệm dày dặn. Tại Vinmec, quá trình thăm khám trở nên nhanh chóng với kết quả chính xác, tiết kiệm chi phí và thời gian cho người bệnh.

Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY

Nguồn tham khảo: mayoclinic.org, cancer.net,cancer.org

XEM THÊM:

2K

Bài viết liên quan