Cấu tạo, chức năng của màng ngoài tim

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nội tổng hợp - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Màng ngoài tim là một túi bảo vệ có chứa một lượng nhỏ chất bôi trơn, giúp hạn chế sự dịch chuyển của tim trong lồng ngực và bảo vệ tim khỏi bị chấn thương cơ học hay nhiễm trùng từ các vùng lân cận.

1. Cấu tạo màng ngoài tim

Màng ngoài tim là một túi bảo vệ tim, che phủ tim và phần gần của đại động mạch, tĩnh mạch chủ xuất phát từ tim. Tim và màng ngoài tim nằm ở phía sau xương ức, ở giữa khoang ngực hay còn được gọi là trung thất.

Giải phẫu màng ngoài tim bao gồm lá thành và lá tạng:

  • Lá tạng là màng trong sát thượng mạc cơ tim
  • Lá thành gồm màng trong và màng sợi. Bề dày của lá thành từ 0,8-2,5mm.

Màng ngoài tim được gắn với xương ức, cột sống và cơ hoành bằng các dây chằng. Thần kinh hoành, các nhánh động mạch chủ và động mạch vú, mạch bạch huyết là các cấu trúc giúp điều hòa, nuôi dưỡng màng ngoài tim. Bình thường màng ngoài tim chứa từ 15 - 50ml dịch, dịch này được tiết bởi trung mô ở màng trong của màng ngoài tim.

2. Chức năng của màng ngoài tim

Chức năng của màng ngoài tim bao gồm:

  • Giữ cho cấu trúc của tim tốt hơn
  • Hạn chế sự dịch chuyển của tim trong lồng ngực
  • Bảo vệ tim khỏi bị chấn thương cơ học và nhiễm trùng từ các vùng lân cận
  • Ngăn tim dãn quá mức khi tăng đột ngột thể tích trong tim. Ví dụ như hở động mạch chủ hoặc hở 2 lá cấp
  • Dịch màng ngoài tim là chất bôi trơn và giảm ma sát bề mặt tim trong chu chuyển tim.
Hình ảnh vị trí của màng ngoài tim

Lá thành màng ngoài tim giúp thực hiện chức năng cơ học, ngăn chặn sự dãn nở buồng tim quá mức trong tình trạng gia tăng khối lượng tuần hoàn. Chức năng này không thể hiện khi tình trạng thể tích tuần hoàn bình thường hay giảm.

Các tế bào trung mô của lớp màng trong tiết ra liên tục prostaglandin E1, eicosanoids, prostacyclin (PGI2), các bổ thể (C3, C4, CH5) để đáp ứng với tình trạng thiếu oxy, tình trạng màng ngoài tim bị căng ra, hoặc tăng công cơ tim, tăng tải cơ tim.

Các chất này giúp thay đổi trương lực động mạch vành, tăng công của tim và chống kết dính tiểu cầu, chống tạo huyết khối trong lòng động mạch vành.

Áp lực trong xoang màng ngoài tim bình thường từ - 5mmHg đến + 5mmHg, tương tự áp lực trong xoang màng phổi, ở cuối thời kỳ hít vào và cuối thời kỳ thở ra, áp lực xoang màng tim lần lượt là - 6mmHg và - 3mmHg, trong thời kỳ hít vào, lượng máu đổ về tim nhiều, do đó vách liên nhĩvách liên thất phồng lên nhẹ về phía nhĩ trái và thất trái.

Trường hợp chẹn tim hay viêm màng ngoài tim co thắt, buồng tim không dãn được, do đó vách liên thấtvách liên nhĩ phồng nhiều hơn về phía buồng tim trái, làm giảm thể tích tim trái (hiện tượng mạch nghịch).

Bệnh nhân có thể mắc một số bệnh ở màng ngoài tim như: viêm màng ngoài tim, tràn dịch màng tim,... Bệnh nhân sẽ có biểu hiện đau ngực sau xương ức và tăng khi hít sâu, giảm đau khi ngồi ngả người phía trước, sốt nhẹ, tim đập nhanh,...

Tóm lại, màng ngoài tim là một túi bảo vệ tim có chứa một lượng nhỏ chất bôi trơn, giúp hạn chế sự dịch chuyển của tim trong lồng ngực và bảo vệ tim khỏi bị chấn thương cơ học hay nhiễm trùng từ các vùng lân cận.

Hình ảnh viêm mủ màng tim

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Chia sẻ
Câu chuyện khách hàng Thông tin sức khỏe Sống khỏe