......

Vai trò của thuốc kháng tiết axit trong điều trị Helicobacter Pylori

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Bác sĩ nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Helicobacter pylori là nguyên nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày và nhiều bệnh lý khác. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị vi khuẩn HP. Theo đó, thuốc kháng axit được chỉ định điều trị căn bệnh này cũng đã đem lại nhiều kết quả tốt.

1. Vi khuẩn Helicobacter Pylori gây nhiều bệnh lý đường tiêu hóa

Helicobacter pylori (H. pylori) có hình xoắn ốc với trùng roi, gram âm, vi khuẩn ưa khí sinh sống trong niêm mạc dạ dày của con người và quá trình nhiễm trùng có thể kéo dài hàng thập kỷ. Người ta cho rằng nhiễm H. pylori là bệnh nhiễm vi khuẩn phổ biến nhất, và ảnh hưởng đến khoảng 50% -75% dân số trên toàn thế giới. H. pylori là nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường tiêu hóa trên, bao gồm bệnh loét dạ dày tá tràng (dạ dày và tá tràng), viêm dạ dày mãn tính, ung thư dạ dày và u lympho mô liên kết niêm mạc dạ dày.

Cùng với các vấn đề về đường tiêu hóa trên, H. pylori gây viêm mãn tính và mức độ thấp ở niêm mạc dạ dày, có thể dẫn đến một số rối loạn chuyển hóa. Nhiễm H. pylori có thể tương quan với tình trạng kháng insulin, tăng cholesterol lipoprotein toàn phần và tỷ trọng thấp và giảm lipoprotein tỷ trọng cao ở những người bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, H. pylori có một vai trò quan trọng trong các bệnh ngoài dạ dày khác như mày đay mãn tính.

Việc điều trị H. pylori vẫn còn là một thách thức, vì có nhiều yếu tố quyết định đến sự thành công của liệu pháp như kháng thuốc kháng sinh chính hoặc phụ, nồng độ thuốc trên niêm mạc, sự tuân thủ của bệnh nhân, các tác dụng phụ và chi phí. Trong khi không có loại thuốc mới nào được phát triển, liệu pháp hiện tại vẫn dựa trên các hỗn hợp khác nhau của các loại thuốc kháng sinh và thuốc kháng tiết axit đã biết.

Viêm loét dạ dày
Vi khuẩn H.Pylori là nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày

2. Một số phác đồ điều trị H.Pylori hiện nay

Một liệu pháp bộ ba tiêu chuẩn bao gồm hai loại kháng sinh và một chất ức chế bơm proton được đề xuất là phác đồ đầu tay. Phác đồ điều trị bốn thuốc có chứa bitmut, điều trị nối tiếp hoặc điều trị bốn thuốc không chứa bisthmut (đồng thời) cũng là một liệu pháp thay thế. Thuốc Levofloxacin có chứa trong phác đồ I đồ 3 thuốc được khuyến cáo là thuốc điều trị cứu nguy cho nhiễm H. pylori sau thất bại của liệu pháp đầu tay. Việc kháng kháng sinh nhanh chóng làm giảm hiệu quả của bất kỳ phác đồ nào liên quan đến các biện pháp khắc phục này. Do đó, bổ sung probiotic vào thuốc, phát triển các thuốc kháng H.Pylori bằng các liệu pháp quang động học và đạt được thành công vắc-xin H. pylori có thể hứa hẹn mang lại kết quả hiệp đồng hoặc cộng hưởng chống lại H. pylori, bởi vì mỗi loại đều có tác dụng khác nhau.

2.1. Điều trị H.Pylori ở bệnh nhân dị ứng với Penicillin

Ở những bệnh nhân bị dị ứng với penicilin, đối với điều trị đầu tay, liệu pháp điều trị bộ 4 thuốc chứa bismuth dường như là lựa chọn tốt hơn phác đồ kết hợp PPI-clarithromycin-metronidazole. Là một phác đồ cứu nguy, phác đồ chứa levofloxacin cùng với clarithromycin và PPI là phương pháp điều trị bậc hai khi có dị ứng với penicilin.

Báo cáo đồng thuận Maastricht IV / Florence đã khuyến nghị sử dụng xét nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh (liệu pháp hướng dẫn nuôi cấy), sau khi điều trị bậc hai thất bại. Tuy nhiên, liệu pháp dòng thứ ba có hướng dẫn nuôi cấy đã được khuyên dùng, nhưng nếu dữ liệu về độ nhạy kháng sinh không có sẵn, liệu pháp bộ ba hoặc bộ bốn thuốc theo kinh nghiệm có thể được khuyến nghị như phác đồ dòng thứ ba.

Do đó, trong 30 năm qua khi H. pylori được xác định, đã có rất nhiều phác đồ điều trị được đề xuất nhưng một phác đồ điều trị duy nhất hiệu quả nhất và ít gây hại nhất để chữa nhiễm H. pylori ở tất cả các cá thể được báo cáo là vẫn còn thiếu.

dị ứng với Penicillin
Bệnh nhân mắc H.Pylori nhưng lại dị ứng với Penicillin sẽ áp dụng liệu pháp điều trị bộ 4 thuốc chứa bismuth

2.2. Thuốc kháng tiết axit PPI

Điều trị H. pylori bao gồm sự kết hợp của các chất kháng khuẩn (kháng sinh) và kháng tiết axit (PPI) trong 7 đến 14 ngày. Thuốc PPI ức chế tế bào thành H + / K + adenosine triphosphatase (ATPase), enzyme của màng ống của tế bào thành dạ dày chịu trách nhiệm về bước cuối cùng trong quá trình tiết axit dạ dày. Sự ức chế enzym này hiệu quả hơn các chất đối kháng thụ thể H2 trong việc ức chế tiết axit dạ dày.

Ở pH thấp, PPI trong dạ dày dưới dạng thuốc tiền chất được kích hoạt bằng axit chuyển thành chất trung gian spiro của dihydrobenzimidazole, sau đó trải qua quá trình thơm hóa thành axit sulfenic, cuối cùng bị mất nước để tạo thành sulfonamide tứ vòng. PPI liên kết với các cystein khác nhau trong tiểu đơn vị α của H + / K + ATPase và ức chế enzyme.

PPI với tác dụng chống bài tiết làm giảm sản xuất axit từ dạ dày, cho phép các mô bị tổn thương do nhiễm trùng lành lại. Thuốc PPI cũng có thể làm cho kháng sinh không bền với axit ổn định hơn khi pH dạ dày tăng lên và cũng có thể làm thay đổi nồng độ kháng sinh bằng cách vận chuyển kháng sinh từ huyết tương vào dịch vị và nâng cao tỷ lệ tiệt trừ thành công.

Vai trò của thuốc kháng tiết axit trong điều trị Helicobacter Pylori
Thuốc kháng tiết axit PPI giúp điều trị H. pylori

3. Vai trò của các loại thuốc kháng tiết axit

Một số nghiên cứu đã đưa ra dữ liệu mâu thuẫn về tỷ lệ tiệt trừ H. pylori giữa các kiểu gen CYP2C19 sử dụng phác đồ dựa trên PPI. Một số ví dụ về tác động tương đối của con đường CYP2C19 đối với sự chuyển hóa PPI đã được chứng minh. Liệu pháp bộ ba dựa trên lansoprazole hoặc omeprazole bị ảnh hưởng bởi tình trạng kiểu gen CYP2C19, trong khi liệu pháp bộ ba dựa trên esomeprazole hoặc rabeprazole thì không [30,33,34]. Liều lượng và thời gian điều trị PPI cho người lớn tương ứng với những thuốc có khả năng ức chế tiết axit dạ dày. Liệu pháp omeprazole dài hạn ở bệnh nhân dương tính với H. pylori gây ra những thay đổi về tình trạng viêm niêm mạc và teo tuyến. Tăng đường huyết do dùng PPI và viêm dạ dày thể teo ở bệnh nhân nhiễm H. pylori có thể thúc đẩy sự phát triển của ung thư dạ dày.

Zole cộng với amoxicillin và metronidazole. Tỷ lệ khỏi bệnh của bệnh nhân là 82,4% theo phân tích ITT và 88,2% theo phân tích PP. Dựa trên một số thử nghiệm lâm sàng hiện có, có vẻ như liệu pháp bộ ba dựa trên quinolon sẽ có hiệu quả như là liệu pháp đầu tay trong trường hợp nhiễm H. pylori. Việc sử dụng levofloxacin thay thế cho clarithromycin trong liệu pháp ba lần và liệu pháp tuần tự đã được nghiên cứu bởi Qian và cộng sự, liệu pháp ba thuốc 7-d levofloxacin (levofloxacin, amoxicillin, esomeprazole) tạo ra hiệu quả điều trị không đạt yêu cầu, chỉ liệu pháp tuần tự chứa levofloxacin đạt được kết quả tương xứng.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo

1. Lv ZF, Wang FC, Zheng HL, Wang B, Xie Y, Zhou XJ, Lv NH. Meta-analysis: is combination of tetracycline and amoxicillin suitable for Helicobacter pylori infection? World J Gastroenterol. 2015;21:2522-2533. [PubMed] [DOI]

2. Hajimahmoodi M, Shams-Ardakani M, Saniee P, Siavoshi F, Mehrabani M, Hosseinzadeh H, Foroumadi P, Safavi M, Khanavi M, Akbarzadeh T. In vitro antibacterial activity of some Iranian medicinal plant extracts against Helicobacter pylori. Nat Prod Res. 2011;25:1059-1066. [PubMed] [DOI]

3. Buzás GM. Metabolic consequences of Helicobacter pylori infection and eradication. World J Gastroenterol. 2014;20:5226-5234. [PubMed] [DOI]

4. Gu H, Li L, Gu M, Zhang G. Association between Helicobacter pylori Infection and Chronic Urticaria: A Meta-Analysis. Gastroenterol Res Pract. 2015;2015:486974. [PubMed] [DOI]

5. Ben Chaabane N, Al-Adhba HS. Ciprofloxacin-containing versus clarithromycin-containing sequential therapy for Helicobacter pylori eradication: A randomized trial. Indian J Gastroenterol. 2015;34:68-72. [PubMed]

6. Olokoba AB, Obateru OA, Bojuwoye MO. Helicobacter pylori eradication therapy: A review of current trends. Niger Med J. 2013;54:1-4. [PubMed] [DOI]

7. Maliheh Safavi, và cộng sự, Treatment of Helicobacter pylori infection: Current and future insights. World J Clin Cases. Jan 16, 2016; 4(1): 5-19

711 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan