Bệnh thấp tim: Điều trị, phòng ngừa và nguy cơ tái phát

06/07/2019
dieu-tri-thap-tim

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSCK II Vũ Văn Soát - Trưởng Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long.

Bệnh thấp tim không chỉ có nguy cơ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, mà còn hay bị tái phát. Do đó, liệu trình điều trị thấp tim cần phải được bệnh nhân thực hiện nghiêm ngặt, cũng như tuân thủ chặt chẽ thời gian dự phòng.

1. Điều trị thấp tim

1.1 Mục tiêu điều trị thấp tim

Đối với điều trị thấp tim ở trẻ em và cả người lớn, các bác sĩ ưu tiên dùng thuốc kháng sinh, chống viêm và điều trị suy tim. Mục tiêu chữa bệnh được đặt ra là:

  • Giảm các triệu chứng cấp tính như viêm khớp, viêm tim,... ở người bệnh
  • Tiêu diệt liên cầu khuẩn ở vùng hầu, cổ họng và đường hô hấp của bệnh nhân.
  • Phòng ngừa cho người bệnh không tái nhiễm vi khuẩn liên cầu.
  • Giáo dục chính bệnh nhân và người thân trong gia đình hiểu rõ hơn về căn bệnh nhằm tuân thủ đúng phác đồ điều trị thấp tim bác sĩ đã đề xuất.

Ngoài ra, cũng cần thực hiện cấy họng hoặc làm xét nghiệm nhanh phết họng tìm streptoccocus cho thân nhân có tiếp xúc với người bệnh, nếu kết quả là dương tính thì họ cũng phải được điều trị.

1.2 Các loại thuốc dùng trong điều trị thấp tim

Một số loại thuốc cụ thể thường được bác sĩ kê toa trong điều trị thấp tim ở trẻ em và cả người lớn bao gồm:

  • Thuốc kháng sinh: Penicillin, macrolide và cephalosporin I hoặc II.
  • Chống viêm khớp: Aspirin, Naproxen hoặc Ibuprofen cho đến khi hết triệu chứng lâm sàng và giảm liều khi phản ứng viêm về lại bình thường.
  • Chữa viêm tim: Dùng các loại thuốc chuyên biệt như NSAIDs, corticoids và IVIG.
  • Điều trị tổn thương não - thần tinh: Khi bệnh nhân có biểu hiện múa vờn, múa giật thì cần cho nghỉ ngơi kết hợp dùng carbamazepine. Nếu tình trạng rối loạn vận động mất kiểm soát diễn tiến nặng thì dùng thêm corticoide hoặc IVIG.

1.3 Theo dõi khi điều trị

Trong quá trình điều trị thấp tim, cũng cần theo dõi xuyên suốt tốc độ lắng hồng cầu máu (ESR) và protein C phản ứng (CRP) sao cho CRP > ESR. Phải làm xét nghiệm C-Reactive Protein (CRP) 2 lần/tuần cho đến khi các triệu chứng lâm sàng có dấu hiệu ổn định. Sau đó, tiếp tục thực hiện kiểm tra CRP mỗi 1 hoặc 2 tuần đến khi bệnh nhân bình thường trở lại.

2. Nguy cơ tái phát thấp tim

dieu-tri-thap-tim-1
Ở bệnh thấp tim, mặc dù có cơ hội chữa khỏi nhưng nguy cơ bệnh xuất hiện trở lại là hoàn toàn có thể

Ở bệnh thấp tim, mặc dù có cơ hội chữa khỏi nhưng nguy cơ bệnh xuất hiện trở lại là hoàn toàn có thể. Các chuyên gia y tế đã liệt kê ra một số yếu tố góp phần khiến cho thấp tim tái phát, chẳng hạn như:

  • Bệnh nhân không tuân thủ theo phác đồ phòng tái phát bác sĩ đưa ra.
  • Tiền căn của người bệnh trước đây đã vướng phải nhiều đợt tái phát.
  • Khoảng cách từ đợt thấp tim cuối cùng đến hiện tại ngắn.
  • Người bệnh thường xuyên tiếp xúc với người nhiễm liên cầu khuẩn, ví dụ trẻ em, thầy cô giáo, phụ huynh hoặc các thành viên trong quân đội.
  • Mắc bệnh khi tuổi còn nhỏ khiến bệnh dễ tái phát hơn.
  • Người bệnh đã từng bị thấp tim và có viêm tim, dù có để lại di chứng hay không thì nguy cơ tái phát cũng khá cao
  • Có tiền sử mắc van tim hậu thấp.

3. Phòng ngừa thấp tim

Để ngăn ngừa mắc phải bệnh thấp tim, đầu tiên phải bắt đầu từ nguyên nhân tiên phát. Điều này đồng nghĩa với việc bệnh nhân nếu bị viêm họng do liên cầu khuẩn thì phải được điều trị kịp thời và tích cực, không để tình trạng bệnh diễn tiến xấu gây ra thấp tim.

Trong trường hợp bệnh nhân đã có tiền sử thấp tim, phòng tránh thứ phát bằng cách uống kháng sinh mỗi tháng hoặc hàng ngày tùy theo chỉ định của bác sĩ với thời gian như sau:

  • Thời gian theo dõi phòng ngừa đối với bệnh nhân không bị viêm tim là tối thiểu 5 năm sau đợt thấp cuối cùng, cho tới khi đủ 18 tuổi.
  • Ngược lại, nếu đã có viêm tim thì thời gian kéo dài ít nhất 10 năm kể từ đợt thấp sau cùng cho đến năm 21 tuổi. Mặc dù người bệnh đã có phẫu thuật tim hay chưa thì vẫn phải tiếp tục theo dõi đến khi đủ thời gian trên.
  • Đối với viêm khớp hậu nhiễm khuẩn liên cầu thì thời gian cần theo dõi là 2 năm. Khi đã đủ thời hạn cũng cần phải kiểm tra siêu âm tim lần nữa, nếu phát hiện thấy tổn thương thì không được ngừng phòng thứ phát mà phải kéo dài thời gian như có viêm tim.

Nếu như đang trong quá trình phòng bệnh bằng Penicillin mà bệnh nhân bị viêm họng, thì phải điều trị cho người bệnh và cả thân nhân có tiếp xúc bằng Clindamycin.

dieu-tri-thap-tim-2
Bệnh nhân nếu bị viêm họng do liên cầu khuẩn thì phải được điều trị kịp thời và tích cực

4. Lưu ý trong chăm sóc bệnh nhân thấp tim

Theo lời khuyên của bác sĩ, chăm sóc bệnh nhân đúng cách sẽ giúp điều trị thấp tim phát huy hiệu quả và nhanh phục hồi. Người bệnh và thân nhân cần ghi nhớ một số lưu ý như sau:

  • Nên nằm nghỉ ngơi tại giường, phòng nghỉ của người bệnh cần đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát, hỗ trợ đầy đủ tiện nghi và có người nhà túc trực chăm sóc trong sinh hoạt.
  • Tư thế Foller nửa nằm nửa ngồi được y khoa công nhận là chuẩn cho người bệnh, đặc biệt hỗ trợ tốt trong việc chữa thấp tim ở trẻ em giúp tránh khó thở, căng chằng các cơ.
  • Bệnh nhân nên ăn các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu như sữa, cá với độ nhạt tương đối, chọn những loại hoa quả có nhiều kali và không uống quá nhiều nước.
  • Tránh vận động gắng sức như: đi cầu thang bộ, làm việc chân tay...để giảm nhu cầu oxy và triệu chứng mệt mỏi, khó thở. Hạn chế vận động khớp ở mức thấp nhất để giảm đau chứ không cần phải xoa bóp hay chườm nóng lạnh tại khớp.
  • Bổ sung thêm các vitamin nhóm B như B1, B6, B12 và thuốc an thần, cũng như theo dõi thân nhiệt của bệnh nhân thường xuyên.

Bên cạnh việc uống thuốc điều trị thấp tim và theo dõi dự phòng, cả bệnh nhân lẫn người bình thường đều phải vệ sinh răng, miệng, mũi, họng đều đặn hàng ngày nhằm ngăn ngừa bị nhiễm trùng do các khuẩn liên cầu. Không nên chủ quan để cơ thể bị nhiễm lạnh, chú ý ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp không ngừng nâng cao sức khỏe, hỗ trợ tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể.

XEM THÊM: