Biến chứng lâu dài của bệnh hen phế quản

29/06/2019
Ho hen

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Đĩnh - Trưởng Đơn nguyên Hô hấp - Hen - Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Hen phế quản là bệnh lý đường hô hấp mạn tính thường gặp trong dân số với biểu hiện là ho, khò khè, khó thở và tức ngực. Nếu kiểm soát cơn hen không hiệu quả, lâu dài bệnh hen sẽ gây ra nhiều biến chứng khác nhau, làm suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng đến chất lượng sống người bệnh.

1. Biến dạng lồng ngực

Đặc điểm điển hình của bệnh hen phế quản là tắc nghẽn đường dẫn khí lúc thở ra. Nguyên nhân sinh bệnh thường là do sự tương tác giữa cơ địa và các yếu tố môi trường. Theo đó, bệnh lý này thường biểu hiện rất sớm, từ khi trẻ còn nhỏ. Sự tắc nghẽn lâu dài không chỉ làm trẻ khó thở mà còn gây tích tụ khí trong lồng ngực. Khi trẻ lớn hơn, thay vì lồng ngực kéo dài ra thì lồng ngực của trẻ bị hen suyễn sẽ căng tròn, đường kính trước-sau trở nên gần bằng đường kính trái-phải trông như lồng ngực nở rộng ở phía trước, xương ức cũng bị nhô ra phía trước.

2. Chậm phát triển thể chất

Biểu hiện cơn hen điển hình là người bệnh đột ngột xuất hiện ngứa mắt, ngứa họng, chảy nước mũi kéo theo sau đó là khó thở, khò khè do co thắt phế quản khi tiếp xúc các yếu tố dị nguyên. Khi ngưng tiếp xúc hay được phun thuốc dãn phế quản, người bệnh sẽ bớt khó thở và ho khạc ra đàm trắng trong. Khi ra khỏi cơn, hầu như trẻ vẫn khỏe mạnh, chạy nhảy như mọi đứa trẻ bình thường.

Tuy nhiên, nếu không có phương tiện cắt cơn hiệu quả hoặc trẻ không được điều trị theo kế hoạch phòng ngừa cơn tốt, mức độ cơn hen diễn ra nặng nề kèm theo tần suất nhiều lần trong ngày về lâu dài có thể làm tổn thương đến cấu trúc của phổi và đường dẫn khí. Hệ thống cây phế quản sẽ bị tắc nghẽn mạn tính, trẻ bị khó thở liên tục, ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ do đó ảnh hưởng đến sản sinh hormone tăng trưởng kết hợp với trẻ bị giảm khả năng hoạt động thể lực dẫn đên chậm phát triển thể chất.

COPD
Hen lâu ngày sẽ khiến hệ thống cây phế quản bị tắc nghẽn mạn tính

3. Tâm phế mạn

Bất cứ bệnh lý mạn tính nào ảnh hưởng đến phổi về lâu dài cũng sẽ ảnh hưởng đến tim. Khi có những biểu hiện khó thở, phù chân, đau tức hạ sườn bên phải, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, chứng tỏ bệnh hen suyễn đã có biến chứng tâm phế mạn, gây suy tim.

Do cấu trúc của phổi bị tổn thương lâu ngày, hệ quả là thành mạch máu của mao mạch phổi bị xơ cứng, tăng kháng lực, kéo theo là tăng áp động mạch phổi. Từ đó, tim phải tăng sức co bóp bơm máu lên phổi, về sau thành cơ tim sẽ dãn dần và biểu hiện suy tim phải. Do hen phế quản có khả năng phục hồi chức năng hô hấp, cho nên thời gian dẫn đến tâm phế mạn của từng bệnh nhân khác nhau, có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, thậm chí lâu hơn tùy vào khả năng kiểm soát cơn hen suyễn.

4. Nhiễm khuẩn hô hấp

Đường thở tắc nghẽn liên tục, tăng tiết đàm nhớt là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn cư trú và sinh bệnh tái đi tái lại. Đây cũng thường là biến chứng ở các bệnh nhân bị hen mạn tính. Nhân các đợt chuyển mùa, các đợt rét, thời tiết thay đổi đột ngột trong ngày, độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn, virus gây viêm nhiễm vùng tai mũi họng, đường hô hấp dưới. Ngược lại, các đợt nhiễm trùng đường hô hấp lại làm cho những triệu chứng bệnh hen nặng hơn. Bệnh nhân sẽ sốt, khó thở tăng, có đờm nhiều, có thể đờm vàng hoặc xanh.

5. Khí phế thũng

Do khí bị ứ lại trong lồng ngực, sự đàn hồi của các phế nang ở bệnh nhân hen giảm dần theo thời gian, thở ra ít, thể tích khí cặn tăng. Cấu trúc của các phế nang bị phá vỡ, thông nối với nhau hình thành cá kén khí. Bên cạnh đó, tăng thể tích khí cặn, giảm thể thích phổi cho gắng sức dẫn tới bệnh nhân khó thở khi gắng sức, hạn chế hoạt động thể lực nhiều và tăng nguy cơ dẫn tới suy tim.

6. Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất

Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất gặp ở khoảng 5% hen mạn tính. Cũng do hệ quả là khí ứ lại trong thì thở ra, các phế nang giãn rộng, tại vùng phế nang giãn, mạch máu thưa thớt, nuôi dưỡng kém, áp lực trong phế nang tăng. Khi phải làm việc gắng sức hoặc ho mạnh, thành phế nang dễ bị bục vỡ. Tràn khí màng phổi hai bên là nguyên nhân gây đột tử ở người hen phế quản.

Tràn khí màng phổi
Tràn khí màng phổi có thể là nguyên nhân gây đột tử ở người hen phế quản

7. Xẹp phổi

Hơn 1/3 trẻ em bị hen suyễn mạn tính nhập viện vì hen có biến chứng xẹp phổi. Xẹp phổi một thùy hoặc nhiều thùy là biến chứng thường gặp tỷ lệ khoảng 10% số bệnh nhân vào viện. Khi hen ổn định thì tình trạng xẹp phổi sẽ khỏi hoặc đôi khi cũng không phục hồi được hoàn toàn. Điều này ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển thể lực của trẻ cũng như khả năng gắng sức sau này.

8. Suy hô hấp

Nếu không kiểm soát tốt, trẻ thường xảy ra cơn hen cấp tính mức độ nặng hoặc hen ác tính sẽ có nguy cơ gây suy hô hấp, dẫn đến tử vong. Dù khi ra cơn, cấu trúc phổi và đường thở đã bị tổn thương nghiêm trọng cũng làm tăng khả năng suy hô hấp mạn tính. Bệnh nhân khó thở liên tục, da, môi, niêm mạc tím, toan hóa máu, đôi khi xảy ra ngừng thở khi ngủ, phải thở máy hỗ trợ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây hôn mê, tử vong đột ngột của bệnh hen.

9. Biến chứng do điều trị

Biến chứng này thường xảy ra khi người bệnh quá lạm dụng một số loại thuốc kháng viêm, thuốc corticoide gây nên hội chứng cushing, loãng xương, viêm loét dạ dày, nhiễm khuẩn dai dẳng, bệnh tâm thần - thần kinh. Nếu dùng quá nhiều các loại thuốc dãn phế quản như adrenalin có thể tử vong đột ngột do rối loạn nhịp tim hoặc mắc hội chứng phổi ức chế.

10. Phòng ngừa hen suyễn đúng cách

hen phế quản khi mang thai
Bệnh nhân hen phải luôn giữ sẵn thuốc cắt cơn cấp tốc bên mình hay trong tầm tay

Bệnh nhân khi đã được chẩn đoán xác định hen phế quản, ngoài điều trị cắt cơn hen, việc dự phòng xảy ra cơn là một yếu tố tiên quyết giúp tăng cường khả năng quản lý bệnh. Do đó, người bệnh cần tuân thủ các loại thuốc hít, xịt, thuốc uống ngay cả khi không có triệu chứng gì. Nhất là ở trẻ nhỏ, cha mẹ cần hỗ trợ phun dùng thuốc cho trẻ, hướng dẫn và giải thích để trẻ hợp tác hay tự làm cho chính mình. Luôn giữ sẵn thuốc cắt cơn sát bên mình hay trong tầm tay.

Bên cạnh đó, do yếu tố thúc đẩy là khi tiếp xúc với các dị ứng nguyên, người bệnh cần xác định và tránh các yếu tố này. Vệ sinh cá nhân tốt, giữ môi trường sạch sẽ, tránh khói bụi, thường xuyên giặt phơi chăn màn, không nuôi chó mèo khi có dị ứng lông chó mèo, không ăn thức ăn gây dị ứng. Yếu tố cảm xúc, stress cũng gây khởi phát cơn hen nên cần tránh. Tập luyện thể lực vừa phải, tránh gắng sức quá mức.

Ngoài ra, tiêm phòng cúm và phế cầu hằng năm cũng là một cách để dự phòng xảy ra cơn hen hoặc giúp mức độ cơn khi xảy ra nhẹ hơn, dễ kiểm soát hơn.

XEM THÊM: