......

Gây tê tủy sống phẫu thuật bàn chân bẹt, bàn chân lồi

Gây tê tủy sống trong phẫu thuật,

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSCK I Nguyễn Đức Thọ - Bác sĩ Gây mê giảm đau - Khoa Gây mê phẫu thuật - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Gây tê tủy sống là kỹ thuật gây tê vùng được thực hiện trong phẫu thuật bàn chân bẹt, phẫu thuật bàn chân lồi, nhằm ức chế tạm thời dẫn truyền thần kinh qua tủy sống, từ đó đáp ứng yêu cầu vô cảm và giảm đau khi mổ.

1. Phẫu thuật bàn chân bẹt, bàn chân lồi

Bàn chân bẹt là một dạng dị tật phổ biến, trong đó mặt lòng bàn chân phẳng lì và không lõm vào như bình thường. Dị tật này gây tổn hại nghiêm trọng đến thần kinh cột sống và ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của người bệnh. Mặt khác, bàn chân lồi có thể được cho là do dị tật xương sên đứng dọc. Lúc này, phần giữa bàn chân của người bệnh lồi xuống, trong khi phần trước và sau của bàn chân lại hướng lên.

Trong một số trường hợp hiếm gặp, dị tật nghiêm trọng ở trẻ đang trong giai đoạn phát triển đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật để giảm đau, làm vững bàn chân và cải thiện, phục hồi chức năng của bàn chân.

Mục đích của phẫu thuật bàn chân bẹt, phẫu thuật bàn chân lồi là để trả về đúng vị trí và tương quan giữa các xương ở bàn chân. Thường sẽ phải kéo dài các gân hoặc dây chằng để xương có thể vận động, cũng như bắt đinh nhỏ và bó bột. Để giảm đau trong và sau phẫu thuật bàn chân bẹt, phẫu thuật bàn chân lồi, các bác sĩ thường áp dụng phương pháp gây tê tủy sống.

2. Khi nào cần gây tê tủy sống?

Chỉ định thực hiện kỹ thuật tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện sẽ giúp vô cảm cho một số phẫu thuật, cũng như giảm đau sau mổ.

Chống chỉ định gây tê tủy sống trong trường hợp:

● Bệnh nhân từ chối;

● Người bị dị ứng thuốc tê;

● Vùng để chọc kim gây tê đã bị viêm nhiễm;

● Khối lượng tuần hoàn bị thiếu, chưa bù đủ hoặc sốc;

Rối loạn đông máu nghiêm trọng;

● Ngưng sử dụng thuốc chống đông chưa đủ thời gian;

Hẹp van hai lá và/hoặc van động mạch chủ khít;

Tăng áp lực nội sọ.

Rối loạn quá trình đông máu
Bệnh nhân rối loạn đông máu không được chỉ định gây tê tủy sống

3. Các bước chuẩn bị

3.1. Người thực hiện kỹ thuật

Bao gồm đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức.

3.2. Phương tiện

Phương tiện cấp cứu và theo dõi bao gồm:

● Dụng cụ hồi sức: Nguồn oxy, bóng Ambu, mặt nạ, các phương tiện đặt nội khí quản, máy mê có kèm thở, máy sốc điện, máy hút, v.v;

● Thuốc hồi sức tuần hoàn: Dịch truyền, ephedrin, adrenalin, v.v;

● Thuốc chống co giật: Họ barbituric, benzodiazepin, thuốc giãn cơ, intralipid 10-20% v.v;

● Theo dõi thường quy: Máy đo điện tim, huyết áp, bão hòa oxy, nhịp thở...

Ngoài ra còn cần có các phương tiện, dụng cụ gây tê và thuốc tê, bao gồm:

● Bơm kim tiêm các cỡ;

● Găng tay;

● Gạc vô trùng;

● Pince;

● Cồn sát trùng;

● Khăn lỗ vô trùng;

● Kim gây tê tủy sống các cỡ...

Các loại thuốc tê cần chuẩn bị là bupivacain, levobupivacain hoặc ropivacain. Có thể phối hợp với thuốc họ morphin. Liều dùng dựa vào trọng lượng, chiều cao và thể trạng của cơ thể người bệnh, cụ thể:

● Giảm liều đối với người > 60 tuổi, thiếu máu, hoặc phụ nữ có thai.

3.3. Bệnh nhân

● Thăm khám trước phẫu thuật;

● Giải thích cho bệnh nhân để cùng hợp tác khi gây tê;

● Vệ sinh vùng gây tê tủy sống;

● Nếu cần có thể cho người bệnh an thần tối hôm trước ngày phẫu thuật.

Ngoài ra nhân viên y tế cũng cần kiểm tra hồ sơ bệnh án của người bệnh theo quy định chung của Bộ y tế.

4. Quy trình tiến hành

Sau khi kiểm tra hồ sơ và thăm khám đầy đủ cho người bệnh, bác sĩ sẽ thực hiện các bước kỹ thuật gây tê tủy sống.

4.1. Dự phòng hạ huyết áp

Bằng cách đặt đường truyền tĩnh mạch và bù dịch từ 5 - 10 ml/kg đối với người lớn.

4.2. Tư thế

● Tư thế ngồi: Bệnh nhân ngồi cong lưng, cúi đầu sao cho cằm chạm vào ngực, chân duỗi trên mặt bàn mổ hoặc bàn chân đặt lên ghế;

● Tư thế nằm: Bệnh nhân nằm nghiêng cong lưng, hai đầu gối áp sát vào bụng, đồng thời cằm tì vào ngực.

4.3. Bác sĩ thực hiện

● Đội mũ;

● Đeo khẩu trang;

● Rửa tay;

● Mặc áo phẫu thuật;

● Đeo găng vô khuẩn.

Sau khi mặc đầy đủ đồ bảo hộ, bác sĩ sẽ sát trùng vùng chọc kim 3 lần bằng dung dịch sát trùng rồi phủ khăn lỗ vô trùng.

4.4. Kỹ thuật gây tê tuỷ sống

● Đường giữa: Chọc vào khe giữa 2 đốt sống, vị trí chọc thông thường là các đốt sống L3-L4 hoặc L4-L5 (nơi cong nhất của cột sống);

● Hoặc Đường bên: Chọc cách đường giữa 1 - 2cm, hướng kim vào đường giữa, lên trên và ra trước;

● Hướng mặt vát của kim gây tê song song với cột sống bệnh nhân;

● Chọc kim cho đến khi nhận thấy cảm giác mất sức cản do kim đi qua màng cứng;

● Kiểm tra, nếu thấy dịch não tuỷ chảy ra thì quay mũi vát của kim về phía đầu bệnh nhân và bơm thuốc tê.

5. Theo dõi

● Các dấu hiệu sinh tồn, bao gồm: Tri giác, nhịp tim, điện tim, huyết áp động mạch và chỉ số bão hòa Oxy mao mạch (SpO2);

● Mức độ phong bế cảm giác (ngăn chặn đau) và vận động;

● Các tác dụng phụ ngoài ý muốn của kỹ thuật gây tê tủy sống.

Người bệnh chỉ được chuyển khỏi phòng Hồi tỉnh khi đạt các tiêu chuẩn sau:

● Không có rối loạn về huyết động và hô hấp;

● Phục hồi hoàn toàn vận động;

● Mức phong bế cảm giác dưới T12 (dưới nếp bẹn).

Chăm sóc sau phẫu thuật
Sau quá trình phẫu thuật người bệnh cần được theo dõi chặt chẽ

6. Tai biến và xử trí

6.1. Tai biến do thuốc

● Dị ứng, sốc phản vệ

Mặc dù ít gặp với các thuốc tê thế hệ mới, nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân bị dị ứng, sốc phản vệ với thuốc tê. Lúc này bác sĩ sẽ xử trí bằng cách dừng sử dụng thuốc tê và áp dụng phác đồ chống sốc phản vệ của Bộ y tế.

● Ngộ độc thuốc tê

Nếu tiêm nhầm thuốc tê vào mạch máu sẽ gây ra ngộ độc. Khi trường hợp này này xảy ra, cần dừng sử dụng thuốc tê, đồng thời chống co giật, cấp cứu hồi sức hô hấp - tuần hoàn. Nếu bị ngộ độc thuốc tê nhóm bupivacain và ropivacain thì truyền intralipid.

6.2. Tai biến do kỹ thuật

Tụt huyết áp, mạch chậm: Điều trị bằng thuốc co mạch như ephedrin, adrenalin, atropin và bù dịch;

● Đau đầu: Cho bệnh nhân nằm bất động, bù đủ dịch, đồng thời dùng thuốc giảm đau và nếu cần thì vá màng cứng bằng máu tự thân (Blood Patch);

● Buồn nôn và nôn: kiểm soát huyết áp, dùng thuốc chống nôn;

● Bí tiểu: Chườm ấm và nếu cần thì đặt ống thông bàng quang;

Gây tê tủy sống toàn bộ: Cấp cứu hồi sức hô hấp - tuần hoàn;

● Các biến chứng khác (Tụ máu quanh tủy, tổn thương tủy, hội chứng đuôi ngựa, viêm màng não tủy...): Cần hội chẩn và thăm dò thêm mới xác định được tổn thương cũng như cách xử trí;

● Gây tê thất bại: Chuyển sang phương pháp vô cảm.

Gây tê tủy sống được chỉ định nhằm vô cảm hoặc giảm đau cho các phẫu thuật chấn thương chỉnh hình từ vùng xương chậu xuống hai chi dưới, trong đó có phẫu thuật bàn chân bẹtphẫu thuật bàn chân lồi. Phương pháp phẫu thuật sẽ tùy thuộc vào tổn thương cụ thể. Những dị tật bẩm sinh ở bàn chân sau phẫu thuật thường cho kết quả tốt, nhưng người bệnh vẫn cần được theo dõi trong suốt quá trình phát triển.

Gây tê tủy sống là phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay, tuy nhiên không phải ai cũng có thể được thực hiện thủ thuật này, nhất là với trẻ phẫu thuật bàn chân bẹt, phẫu thuật bàn chân lồi. Vì thế bạn nên đến các cơ sở y tế có uy tín để thực hiện thăm khám trước khi phẫu thuật.

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã sử dụng phương pháp gây tê tủy sống trong các ca phẫu thuật, mổ, điều trị,.. Giúp người bệnh không cảm thấy đau đớn và hạn chế được tối đa biến chứng so với các phương pháp gây mê, gây tê khác. Đặc biệt với hệ thống máy móc hiện đại đạt chuẩn cùng đội ngũ Y, Bác sĩ có chuyên môn, giàu kinh nghiệm sẽ đem lại kết quả tốt nhất cho Quý khách hàng.

Khách hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ trợ.

2.4K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan