......

Tình huống phức tạp trong chẩn đoán huyết thanh

Bài viết được thực hiện bởi bác sĩ khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park


Sự biến thiên tự nhiên của đáp ứng miễn dịch; Yếu tố dạng thấp; Xác định độ đặc hiệu; Sự truyền từ mẹ sang thai nhi; Tác động của kháng sinh... là những tình huống phức tạp trong chẩn đoán huyết thanh.

1. Sự biến thiên tự nhiên của đáp ứng miễn dịch (Natural variation of the immune response)

Những yếu tố tác động đến đáp ứng miễn dịch thì nhiều và do những yếu tố không phải ở vi khuẩn và những yếu tố của bản thân vi khuẩn (beyond the details of the bacterium in itself). Do sự biến thiên của gen người và do đó có sự biến thiên trong hệ miễn dịch, không ngạc nhiên rằng tính không đồng nhất (hetereogeneity) trong đáp ứng miễn dịch thể dịch với nhiễm khuẩn. Điều này là hiển nhiên trong ít nhất là nhóm tuổi, người rất trẻ và người rất già có đáp ứng miễn dịch ít hơn, và những lý do khác như là một số kháng nguyên. Chẳng hạn, trẻ dưới 2 tuổi có thể ít đáp ứng miễn dịch với polysaccharides của vi khuẩn hơn trẻ lớn hơn (15- 17). Còn trong cộng đồng khép kín hoặc ở những nhóm gen nhỏ hơn (smaller genetic groups), như gia đình, có thể đáp ứng rất nghèo nàn với kháng nguyên nào đó hoặc với nhiều kháng nguyên.

Sự thiếu hụt miễn dịch ở một số người có thể dẫn đến không có đáp ứng, đáp ứng ít hoặc đáp ứng chậm. Ứng dụng những thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh phải đảm bảo rằng biết được những hạn chế đó.

Gen
Sự biến thiên của GEN người ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch

2. Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid factor)

Yếu tố dạng thấp được mô tả là dạng kháng thể in vivo mà nó gắn trực tiếp với kháng thể khác của cùng ký chủ (78,79). Chẳng hạn, dạng thường nhất của yếu tố dạng thấp là IgM kháng IgG. Cũng có thể gặp IgG kháng IgG. Trong thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh, nhất là loại gián tiếp, như EIA gián tiếp, yếu tố dạng thấp có thể cản trở việc xác định chính xác kháng thể thực sự kết hợp với kháng nguyên vi khuẩn hay không. Trong thử nghiệm IgM, yếu tố dạng thấp IgM có thể kết hợp trực tiếp với IgG đối với vi khuẩn. Khi IgG còn có khả năng kết hợp với kháng nguyên (and hence the rheumatoid factor), đánh giá sau đó đối với IgM bằng sử dụng kháng thể kháng IgM thứ phát có thể phát hiện yếu tố thấp đúng hơn là phát hiện IgM.

Yếu tố dạng thấp có tần suất nhiều hơn trong huyết thanh người ở bị bệnh viêm khớp dạng thấp đơn độc. Trong nhiều nhiễm khuẩn, yếu tố dạng thấp nói chung được phát sinh bởi một số cơ chế trong hoạt động viêm.

Trong ít nhất là thử nghiệm IgM, yếu tố dạng thấp có thể loại trừ bằng cách hấp phụ IgG trước khi thử nghiệm.

3. Xác định độ đặc hiệu

Như trình bày ở phần trước, immunoblots cho khả năng xác định về huyết thanh học một số nhiễm khuẩn. Phương pháp khác khảo sát độ đặc hiệu của đáp ứng miễn dịch bao gồm hấp phụ chủ động huyết thanh với kháng nguyên đích. Tức là, tính đặc hiệu có thể suy ra nếu kháng thể có thể được lấy đi (removed) sau phản ứng với bằng cách tủa với chất nền vi khuẩn (bacterial substrate), thường là vi khuẩn nguyên thể. Điều này có thể dễ dàng kiểm soát hơn với vi khuẩn nguyên thể mà bề mặt có biểu hiện kháng nguyên hơn là thành phần kháng nguyên (như độc tố từ vi khuẩn). Tuy nhiên, phải chuẩn hóa để lượng kháng thể bị khử được biết trước bởi nhiều quy trình hấp phụ (absorption). Đã có một số thí dụ chứng minh ở đó nhiều phương pháp xác định thích hợp được khám phá.

Sơ đồ nguyên lý của ba cơ chế chính của việc sử dụng chất nền
Sơ đồ nguyên lý của 3 cơ chế chính của việc sử dụng chất nền vi khuẩn

4. Sự truyền từ mẹ sang thai nhi (Maternal-fetal transfer)

Nhau thai trưởng thành bắt đầu để cho IgG qua hàng rào mẹ-con của nó trong 3 tháng giữa thai kỳ. IgG của mẹ sẽ có số lượng phong phú trong tuần hoàn của thai nhi đến cuối thời kỳ mang thai. IgM thì phức hợp phân tử đầy đủ không thấy trong tuần hoàn thai nhi trừ khi do thai nhi tự sản xuất. Do đó, sự hiện diện IgM đặc hiệu cho vi khuẩn ở trẻ mới sinh hay sau đó là dấu hiệu nhiễm khuẩn bào thai hay sơ sinh. IgG của mẹ có thể tồn tại trong trẻ sơ sinh cho đến 6 tháng (thường khoảng 4-12 tháng), và điều này có thể làm lẫn lộn kết quả thử nghiệm huyết thanh học nếu IgG là đích quan trọng để phát hiện. Vì thế, thử nghiệm huyết thanh học đối với bệnh giang mai sẽ thường dương tính ở trẻ sơ sinh khi mẹ chúng bị nhiễm. Nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh cần phải làm nhiều lần sau hiệu giá lúc mới sinh. So sánh hiệu giá giữa mẹ và con cũng có một số giá trị. Hiện tại, không có phương pháp thiết thực nào để phân biệt kháng thể IgG của mẹ hay của con.

5. Tác động của kháng sinh (Antibiotic effects)

Đáp ứng miễn dịch sẽ xảy ra điển hình trong giai đoạn bệnh xâm lấn do hầu hết những tác nhân vi khuẩn dù nó có được chẩn đoán hay không. Điều trị kháng sinh có khả năng làm giảm lượng đáp ứng miễn dịch do sự kháng khuẩn sẽ làm ngăn sự nhân lên của vi khuẩn và có thể làm nhiễm khuẩn kết thúc một cách đột ngột trong lúc quá trình miễn dịch đang xảy ra. Đối với nhiều nhiễm khuẩn, bệnh tiến triển theo thời gian điều trị và chẩn đoán, có nhiều kháng sinh sẽ có một ít tác động đến sự triệt tiêu hình thành kháng thể. Tuy nhiên, một số thí dụ, ở đó người ta tin rằng điều trị sớm có thể làm giảm diễn tiến bệnh và cản trở sự phát triển kháng sinh (hinder antibiotic development). Trong viêm họng do streptococci, ASOT có thể bị ảnh hưởng bởi kháng sinh sử dụng. Cũng vậy, sử dụng sớm kháng sinh thích hợp có thể giảm đáp ứng huyết thanh đối với nhiễm Mycoplasma pneumoniae.

Tác dụng phụ khi dùng kháng sinh ceftizoxime lni 0,5g
Tác động của kháng sinh làm giảm lượng đáp ứng miễn dịch

6. Đáp ứng miễn dịch thể dịch so với đáp ứng miễn dịch tế bào

Dùng số đo lượng kháng thể để cho biết đã từng bị nhiễm khuẩn hay nhiễm khuẩn đang hoạt động là rất lâu đời (time-honoured). Tương tự, dùng test da cho mục đích chứng minh đáp ứng miễn dịch tế bào và vì thế nhiễm khuẩn trước đó hay hiện tại cũng có thể áp dụng cho một số mục đích. Tuy nhiên, sử dụng việc đánh giá miễn dịch qua trung gian tế bào trong in vitro không được khảo sát tỉ mỉ để hiểu đầy đủ cho mục đích chẩn đoán (80,81). Có khả năng rằng sự hiểu biết đầy đủ về chiến lược chẩn đoán miễn dịch mà có khả năng thiên về do những phương pháp thông thường mà đa số những nghiên cứu đã chọn để theo. Có lẽ ngay cả sự kết hợp ‘chẩn đoán miễn dịch’ có thể là phương pháp tốt nhất cho một số nhiễm khuẩn.

Mời Quý vị theo dõi bộ tài liệu về Chẩn đoán huyết thanh bệnh nhiễm trùng của Bác sĩ Trần Thị Ngọc Anh bao gồm:

  1. Chẩn đoán huyết thanh bệnh nhiễm trùng
  2. Kháng nguyên và sự biến đổi kháng nguyên
  3. Mối liên hệ kháng nguyên
  4. Tính không đặc hiệu của đáp ứng miễn dịch thể dịch
  5. Sơ lược những phương pháp chẩn đoán huyết thanh - Phần 1
  6. Sơ lược những phương pháp chẩn đoán huyết thanh - Phần 2
  7. Những khía cạnh của sự sử dụng (General aspects of utilization) trong chẩn đoán huyết thanh
  8. Tình huống phức tạp trong chẩn đoán huyết thanh

Nguồn: Nevio Cimolai

Children’s and Women’s Health Centre of British Columbia, Vancouver, British Columbia, Canada

223 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan