......

Sốt cao, sụt cân, ra mồ hôi trộm kéo dài: Cẩn trọng với bệnh lý u lympho

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Phan Trúc - Bác sĩ Nội Ung bướu - Trung tâm Ung bướu Vinmec - Penn - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Sốt cao kéo dài, ra mồ hôi đêm, sụt cân không chủ ý kèm theo nổi hạch không đau là những triệu chứng gợi ý u lympho ác tính. Vậy u lympho là bệnh gì và điều trị như thế nào?

1. U lympho là gì?

U lympho ác tính (ung thư hạch bạch huyết) là một dạng ung thư máu với sự gia tăng các tế bào ác tính của hệ thống lưới lympho tại chỗ hoặc toàn thân, chủ yếu liên quan đến tế bào hạch bạch huyết, lá lách, gan và tủy xương. U lympho có 2 loại chính là u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin. Trong bài viết này đề cập đến bệnh u lympho Hodgkin. Triệu chứng u lympho Hodgkin ác tính hay gặp bao gồm nổi hạch không đau, sốt cao kéo dài, ra mồ hôi đêm, sụt cân không chủ ý kèm ngứa, gan to, lách to.

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào sinh thiết hạch bạch huyết và có thể điều trị khỏi khoảng 75% trường hợp với biện pháp hóa trị kèm theo xạ trị hoặc không.

Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 9000 trường hợp u lympho mới được chẩn đoán, tỷ lệ nam/nữ là 1.4/1. Bệnh ung thư hạch bạch huyết này hiếm khi xảy ra trước 10 tuổi, phổ biến ở giai đoạn 15 đến 40 tuổi hoặc 50 đến 60 tuổi.

2. Sinh lý bệnh u lympho Hodgkin

U lympho Hodgkin là hậu quả từ quá trình chuyển đổi dòng các tế bào có nguồn gốc từ tế bào B và làm tăng các tế bào 2 nhân Reed-Sternberg (tế bào hình “mắt cú”). Nguyên nhân chính xác dẫn đến u lympho Hodgkin đến nay vẫn chưa xác định. Tuy nhiên yếu tố di truyền và một số mối liên quan đến môi trường (như nghề nghiệp chế biến gỗ, tiền sử sử dụng Phenytoin, xạ trị hoặc hóa trị, nhiễm virus Epstein-Barr, HIV, herpesvirus type 6, vi khuẩn) đóng vai trò nhất định trong cơ chế bệnh sinh. Một số yếu tố làm tăng nhẹ nguy cơ u lympho Hodgkin, bao gồm:

  • Người suy giảm miễn dịch, như sau cấy ghép cơ quan phải dùng thuốc ức chế miễn dịch;
  • Người có các rối loạn miễn dịch bẩm sinh, như hội chứng Klinefelter, Chediak-Higashi hay Wiskott-Aldrich);
  • Người mắc bệnh rối loạn tự miễn dịch, như viêm khớp dạng thấp, viêm ruột-loét miệng, hội chứng Sjögren hay Lupus ban đỏ hệ thống.

Hầu hết bệnh nhân u lympho Hodgkin kèm theo một khiếm khuyết tiến triển chậm trong miễn dịch qua trung gian tế bào T. Điều này góp phần gây nên các bệnh lý nhiễm khuẩn thông thường, nhiễm nấm, virus và ký sinh trùng. Thêm vào đó, khả năng miễn dịch dịch thể đã bị ức chế trong giai đoạn bệnh tiến triển, từ đó khiến người bệnh tử vong do nhiễm trùng huyết.

3. Dấu hiệu và triệu chứng của u lympho Hodgkin

Hầu hết trường hợp u lympho nhập viện vì nổi hạch vùng cổ, không đau. Mặc dù cơ chế gây nên triệu chứng này vẫn chưa rõ ràng nhưng hiện tượng đau hạch ngay sau khi sử dụng đồ uống có cồn được xem là một gợi ý giúp chẩn đoán sớm u lympho Hodgkin.

Một số triệu chứng u lympho khác xuất hiện khi tế bào ác tính lan tràn vào hệ liên võng nội mô (thường ở các vị trí gần nhau), bao gồm:

  • Ngứa nhiều ở giai đoạn sớm;
  • Sốt cao kéo dài, ra mồ hôi trộm nhiều về đêm và sụt cân không chủ ý (trên 10% cân nặng trong 6 tháng) do sự xâm nhập tế bào ác tính vào các hạch bạch huyết ở trung thất, sau phúc mạc, gan hoặc tủy xương;
  • Lách to, kèm theo gan to;
  • Sốt Pel-Ebstein đặc trưng bởi biểu hiện sốt cao thường xuyên trong vài ngày xen kẽ với vài ngày đến vài tuần bình thường;
  • Suy kiệt (hay gặp ở giai đoạn ung thư hạch bạch huyết tiến triển).

Tổn thương xương đa số không biểu hiện triệu chứng nhưng có thể gây đặc xương đốt sống và hiếm gặp hơn là đau kèm hủy xương hoặc chèn ép tủy sống. Các tổn thương nội sọ, dạ dày và ngoài da của u lympho Hodgkin tương đối hiếm gặp và thường gợi ý liên quan đến HIV.

Khi khối u chèn ép tại chỗ có thể dẫn đến một số triệu chứng, bao gồm:

  • Vàng da thứ phát do tắc mật trong hay ngoài gan;
  • Phù chân thứ phát do tắc nghẽn bạch huyết ở khung chậu hoặc bẹn;
  • Khó thở, khò khè do chèn ép khí phế quản;
  • Áp xe phổi, viêm phổi thùy hay viêm phế quản phổi;
  • Xâm lấn màng cứng gây chèn ép tủy và dẫn đến liệt;
  • Hội chứng Horner và liệt thanh quản do tăng kích thước hạch lympho gây chèn ép thần kinh giao cảm và thần kinh thanh quản;
  • Đau thần kinh do chèn ép rễ thần kinh.

4. Chẩn đoán u lympho Hodgkin

U lympho nên được xem xét nếu người bệnh nổi hạch không đau hoặc phát hiện hạch trung thất trên phim X quang ngực thường quy. Một số bệnh lý gây nổi hạch tương tự u lympho Hodgkin là tăng sinh bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, nhiễm toxoplasma hay CMV hoặc bệnh bạch cầu (lơ xê mi). Đồng thời, hình ảnh X quang ngực tương tự u lympho có thể thấy ở bệnh nhân ung thư phổi, sarcoidosis hoặc lao phổi.

Sau khi chụp X quang, người bệnh sẽ được chỉ định sinh thiết hạch nếu xác định hình ảnh nghi ngờ u lympho Hodgkin trên CT ngực hoặc chụp PET ngực. Nếu chỉ có dấu hiệu hạch trung thất lớn, bác sĩ có thể chỉ định nội soi trung thất hoặc thủ thuật Chamberlain. Bên cạnh đó, sinh thiết hạch dưới hướng dẫn của CT có thể được cân nhắc, nhưng sinh thiết kim thường không cho kết quả chính xác nên đòi hỏi phải sinh thiết lõi nếu cần thiết.

Kết quả sinh thiết hạch trong u lympho Hodgkin có thể phát hiện các tế bào Reed-Sternberg (một dạng tế bào lớn, có 2 nhân) trong một quần thể tế bào có thâm nhiễm mô đệm không đồng nhất, bao gồm mô bào, tế bào lympho, bạch cầu mono, tương bào, bạch cầu ưa axit. Một số kháng nguyên trên tế bào Reed-Sternberg có thể giúp phân biệt u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin hay phân biệt u lympho Hodgkin kinh điển với tuýp tế bào lympho chiếm ưu thế.

Một số kết quả xét nghiệm máu khác có thể bất thường nhưng không mang lại giá trị chẩn đoán, bao gồm:

  • Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi cho thấy tăng nhẹ số lượng bạch cầu đa nhân, giảm bạch cầu lympho sớm và nghiêm trọng hơn khi u lympho tiến triển, tăng bạch cầu ưa axit (ở 20% bệnh nhân), tăng tiểu cầu hay thiếu máu hồng cầu nhỏ. Một số trường hợp có xâm lấn tủy xương gây giảm ba dòng tế bào máu nhưng ít gặp;
  • Nồng độ alkaline phosphatase máu tăng cao;
  • Tăng phosphatase kiềm bạch cầu, haptoglobin huyết thanh và các chất phản ứng giai đoạn cấp tính khác thường phản ánh tình trạng bệnh hoạt động.

5. Tiên lượng U lympho Hodgkin

Bệnh nhân u lympho Hodgkin sống thêm 5 năm không bệnh sẽ được xem là khỏi bệnh hoàn toàn, các trường hợp tái phát sau 5 năm rất hiếm gặp. Biện pháp hóa trị liệu kèm hoặc không với xạ trị có thể giúp điều trị khỏi đến 70-80% bệnh nhân.

Nguy cơ u lympho tái phát tăng lên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm:

  • Nam giới;
  • Tuổi trên 45;
  • Tế bào ung thư xâm lấn nhiều vị trí ngoài hạch;
  • Có biểu hiện triệu chứng toàn thân khi u lympho được chẩn đoán.

Cần đặc biệt lưu ý nếu người bệnh không đạt được tiêu chí lui bệnh hoàn toàn hoặc tái phát trong vòng 12 tháng sẽ có tiên lượng xấu hơn.

6. Điều trị u lympho Hodgkin như thế nào?

Việc lựa chọn phác đồ điều trị u lympho Hodgkin tương đối phức tạp, phụ thuộc vào giai đoạn chính xác của bệnh. Trước khi tiến hành điều trị, nam giới nên được tư vấn cất giữ tinh trùng trong ngân hàng tinh trùng còn phụ nữ cần thảo luận về các lựa chọn sinh sản với bác sĩ chuyên khoa ung thư.

U lympho Hodgkin giai đoạn IA, IIA, IB hoặc IIB điều trị thông thường theo phác đồ hoá trị có Doxorubicin (Adriamycin), Bleomycin, Vinblastine và Dacarbazine (gọi tắt là ABVD) kết hợp xạ trị hoặc hóa chất đơn thuần (kéo dài thành nhiều đợt). Phác đồ trên có thể chữa khỏi bệnh lý u lympho Hodgkin cho khoảng 80% trường hợp. Tuy nhiên bệnh nhân có khối trung thất lớn có thể cần hóa trị thời gian dài hơn hoặc sử dụng phác đồ khác và đa số phải kèm xạ trị.

U lympho giai đoạn IIIA và IIIB hóa trị theo phác đồ ABVD đơn thuần, kết quả có thể điều trị hết cho 75-80% ở giai đoạn IIIA và 70-80% ở giai đoạn IIIB.

Đối với u lympho giai đoạn IVA và IVB, hóa trị theo phác đồ ABVD được xem là chuẩn với tỷ lệ lui bệnh đạt khoảng 70-80% và có trên 50% trường hợp sống không bệnh sau 5 năm.

Một số phác đồ hóa trị khác bao gồm:

  • Kết hợp Bleomycin, Etoposide, Doxorubicin (Adriamycin), Cyclophosphamide, Vincristine (Oncovin), Procarbazine và Prednisone (gọi là phác đồ BEACOPP);
  • Kết hợp Mechlorethamine với Doxorubicin, Vinblastine, Vincristine, Etoposide, Bleomycin và Prednisone (gọi là phác đồ Stanford V)

Người bệnh có thể được chỉ định kết hợp hóa trị phác đồ Stanford V với xạ trị để điều trị duy trì.

Một số trường hợp u lympho Hodgkin có thể được xem xét khả năng ghép tế bào gốc tự thân bằng cách sử dụng tế bào máu ngoại vi (khi đủ điều kiện) nếu bệnh tái phát hoặc không đáp ứng với hóa trị.

Các biến chứng của điều trị u lympho Hodgkin:

  • Hoá trị liệu với các thuốc như Mechlorethamine, Vincristine, Procarbazine và Prednisone làm tăng nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu sau điều trị trên năm;
  • Hóa trị và xạ trị đều làm tăng nguy cơ ung thư mô đặc, như vú, ống tiêu hóa, phổi, mô mềm;
  • Xạ trị trung thất làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch vành.

Các hoạt chất thế hệ mới như Brentuximab vedotin đã được đưa vào điều trị U lympho Hodgkin cải thiện đáng kể đáp ứng lâm sàng, kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Tóm lại, bệnh u lympho là một bệnh lý nguy hiểm cần được phát hiện và điều trị sớm để việc điều trị thuận lợi hơn. Tuy nhiên, các triệu chứng của bệnh lý này dễ nhầm lẫn với các bệnh khác nên nhiều người bệnh chủ quan và bỏ qua. Do đó, khi xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý bất thường nào kể trên, bệnh nhân nên được đi thăm khám kịp thời.

Tài liệu được hỗ trợ bởi công ty Takeda.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Đặt lịch nhanh chóng và theo dõi lịch hẹn thuận tiện hơn qua ứng dụng MyVinmec. Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

148 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan