Thời gian lặp lại tầm soát ung thư đại trực tràng theo hướng dẫn Hiệp hội tiêu hoá Hoa Kỳ (ACG)

Bài được viết bởi Thạc sĩ - Bác sĩ Mai Viễn Phương - Trưởng Đơn nguyên Nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh và Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Tại Hoa Kỳ, ung thư đại trực tràng (CRC) đứng thứ hai sau ung thư phổi trong số các nguyên nhân gây tử vong do ung thư và là loại ung thư phổ biến thứ ba ở cả nam và nữ. Một nghiên cứu vào năm 2020 ước tính rằng, khoảng 147.950 trường hợp CRC mới sẽ được chẩn đoán và 53.200 người đã chết vì căn bệnh này. Từ năm 2011 đến 2015, tỷ lệ mắc bệnh trung bình hàng năm trên 100.000 dân số lần lượt là 45,9 và 34,6 đối với nam và nữ . Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong CRC đã giảm đều đặn, tương ứng khoảng 1,7% và 3,2% mỗi năm. Sự suy giảm bắt đầu vào giữa những năm 1980 và đã tăng tốc kể từ đầu những năm 2000. Điều này được cho là do những thay đổi trong các yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm ung thư thông qua sàng lọc và loại bỏ các polyp tiền ung thư bằng nội soi đại tràng, bên cạnh những tiến bộ trong phương pháp điều trị và phẫu thuật.

1. Các khoảng thời gian nên tuân thủ cho các phương thức sàng lọc ung thư đại trực tràng

2. Các nghiên cứu nói gì?

Không có nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nào so sánh các khoảng thời gian sàng lọc khác nhau. Khoảng thời gian tối ưu để lặp lại xét nghiệm máu ẩn trong phân không được biết. Trong quá trình theo dõi dài hạn thử nghiệm Minnesota xét nghiệm máu ẩn trong phân , tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng đã giảm 33% với sàng lọc hàng năm và giảm 18% với sàng lọc 2 năm một lần. Các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng của Châu Âu cũng cho thấy xét nghiệm máu ẩn trong phân 2 năm một lần có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng.

Trong một phân tích, xét nghiệm máu ẩn trong phân hàng năm và nội soi đại tràng 10 năm một lần mang lại số năm sống tương tự. Các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng đang thực hiện so sánh xét nghiệm máu ẩn trong phân hàng năm và xét nghiệm máu ẩn trong phân hai năm một lần với nội soi đại tràng về tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng và giảm tỷ lệ tử vong. Hiện tại, lời khuyên vẫn là nên kiểm tra xét nghiệm máu ẩn trong phân hàng năm.

Một số nghiên cứu dựa trên dân số đã báo cáo nguy cơ ung thư đại trực tràng thấp sau khi nội soi đại tràng sàng lọc âm tính trong ít nhất 10 năm và tối đa lên đến 20 năm. Lee và cộng sự báo cáo giảm 46% và 88% nguy cơ tử vong liên quan đến ung thư đại trực tràng và ung thư đại trực tràng tương ứng trong 12 năm sau khi nội soi âm tính. Pilonis và cộng sự đã báo cáo hiệu quả của nội soi đại tràng ở dân số Ba Lan so với dân số chung và nhận thấy tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong được tiêu chuẩn hóa giảm 10 năm tới 15 năm sau khi nội soi đại tràng âm tính so với dân số chung.

Trong một nghiên cứu mô hình khác, tầm soát lại 10 năm sau khi nội soi đại tràng sàng lọc âm tính ở tuổi 50 làm giảm ung thư đại trực tràng so với không sàng lọc thêm. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sử dụng xét nghiệm máu ẩn trong phân hoặc xét nghiệm máu ẩn trong phân độ nhạy cao hàng năm hoặc nội soi đại tràng ảo 5 năm một lần ít tốn kém hơn so với việc nội soi lại.

Xét nghiệm máu ẩn trong phân 2 năm một lần có hiệu quả trong việc tầm soát ung thư đại trực tràng

3. Một số vấn đề của sàng lọc

Lo ngại của xét nghiệm dựa trên phân bao gồm kết quả dương tính giả và tác hại liên quan đến nội soi đại tràng. Tai biến chính của nội soi đại tràng là chảy máu (tỷ lệ biến cố gộp là 8 trên 10.000) và thủng (tỷ lệ biến cố gộp là 4 trên 10.000). Nguy cơ biến chứng cao hơn khi cắt polyp và ở các nhóm tuổi lớn hơn.

Các biến chứng khác bao gồm nguy cơ mất cân bằng điện giải và bệnh thận do chế phẩm ruột hoặc các biến cố tim phổi do dùng thuốc an thần vừa hoặc sâu và chấn thương lách. Ngoài ra, cũng có mối quan tâm đối với ung thư đại trực tràng sau nội soi đại tràng, được định nghĩa là ung thư đại trực tràng được chẩn đoán sau khi nội soi đại tràng không phát hiện ung thư. Tỷ lệ ung thư phát hiện sau nội soi đại tràng được ước tính là 1 trên 3.174 ống soi. Một chương trình giám sát và cải tiến chất lượng là chìa khóa để giảm ung thư đại trực tràng sau nội soi đại tràng.

Tác hại của nội soi đại tràng ảo bao gồm những lo ngại về phơi nhiễm bức xạ và các phát hiện ngoài cơ thể. Các phát hiện ngoại vi được báo cáo trong 27% – 69% các nghiên cứu. Các di chứng sau cùng của những phát hiện ngẫu nhiên này vẫn chưa được định lượng đầy đủ.

Tác hại của nội soi viên nang đến từ các tác dụng phụ tiềm ẩn của việc chuẩn bị cần thiết trước khi kiểm tra (ví dụ như mất cân bằng điện giải) và khả năng giữ viên nang trong ruột non. Tuy nhiên, trong thử nghiệm đánh giá sàng lọc bằng nội soi viên nang, không có tác hại nghiêm trọng nào được báo cáo

Xét nghiệm phân dương tính giả:

Một tình huống khó xử phổ biến mà các bác sĩ nội soi phải đối mặt là tình huống xét nghiệm phân là dương tính nhưng nội soi sau đó lại âm tính (tức là nội soi đại tràng bình thường, không phát hiện tổn thương nào trên khung đại tràng). Đây là mối quan tâm lớn hơn từ bệnh nhân và nhà cung cấp đối với xét nghiệm DNA phân đa mục tiêu (mtsDNA), xét nghiệm này là xét nghiệm máu ẩn trong phân cộng với các dấu hiệu DNA bị methyl hóa.

Tuy nhiên, có 2 nghiên cứu có thể phần nào gạt bỏ đi mối lo ngại này. Trong một nghiên cứu tiếp theo với 1.050 người tham gia có xét nghiệm mtsDNA dương tính, chỉ có 8 bệnh nhân ung thư dạ dày được phát hiện sau 4 năm theo dõi và tỷ lệ mắc không khác so với dân số chung hoặc nhóm âm tính với mtsDNA. Trong một nghiên cứu tiền cứu thứ hai, Cooper và cộng sự đã mời 30 cá nhân có xét nghiệm mtsDNA dương tính giả để kiểm tra lại, nội soi trên và nội soi đại tràng. Trong thời gian theo dõi lên đến 29 tháng, trong số 12 bệnh nhân được phục hồi chức năng, 7 bệnh nhân có xét nghiệm mtsDNA âm tính lần thứ hai. Trong số 5 người có xét nghiệm dương tính dai dẳng, 3 người có kết quả dương tính bao gồm cả u tuyến cấp cao. Không có bệnh ung thư hoặc tử vong nào được phát hiện trong một đánh giá biểu đồ của 30 đối tượng này.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Tài liệu tham khảo: Shaukat, Aasma MD et al. ACG Clinical Guideline: Management of Irritable Bowel Syndrome. American Journal of Gastroenterology.

Chia sẻ
Câu chuyện khách hàng Thông tin sức khỏe Sống khỏe