Dấu hiệu và biến chứng của trẻ bị viêm VA cấp tính

05/06/2019
Viêm VA

Trẻ bị viêm VA cấp tính với biểu hiện sốt cao, khó chịu không những làm bố mẹ lo lắng mà còn có thể biến chứng vô cùng nguy hiểm nếu không được nhận biết và điều trị kịp thời.

1. Viêm VA là gì?

V.A (Végétations Adénoides) là một tổ chức lympho nằm ở vòm họng, còn gọi là amidan Luschka. V.A phát triển mạnh ở lứa tuổi nhỏ và bắt đầu thoái triển từ 5 - 6 tuổi trở đi. Nhiệm vụ của V.A là nhận biết và định dạng các yếu tố gây bệnh xâm nhập cơ thể và giúp cơ thể sản xuất các kháng nguyên bảo vệ cơ thể.

Viêm V.A cấp tính là viêm nhiễm cấp tính, xuất tiết hoặc có mủ ở amidan Lushka. Do thường xuyên tiếp xúc với các vi khuẩn nên nó cũng thường xuyên bị tấn công và trở thành nơi cư trú của vi khuẩn, virus gây bệnh. Các tác nhân gây viêm V.A cấp ban đầu thường là do virus và sau đó bội nhiễm thêm vi khuẩn làm cho tình trạng bệnh phức tạp hơn như:

  • Virus: Adenovirus, Myxovirus, Rhinovirus...
  • Vi khuẩn: Tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A, Haemophilus Influenzae...

Một số yếu tố nguy cơ có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn hoặc virus tấn công cơ thể, làm tăng nguy cơ viêm VA cấp tính như: Sức đề kháng yếu; Thời tiết chuyển mùa; Điều kiện vệ sinh không đảm bảo: Khói bụi, gió lùa, vệ sinh cá nhân cho trẻ không tốt...

viêm VA
Viêm VA

2. Đối tượng dễ mắc viêm VA cấp tính

Viêm V.A cấp tính là viêm nhiễm cấp tính là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Viêm V.A chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 30 - 40% trẻ em Việt Nam, tức là cứ 3 trẻ thì có 1 trẻ bị viêm V.A, tần suất mỗi năm trẻ có thể bị 4 - 6 đợt viêm cấp.

Đặc biệt, với trẻ bị còi xương, suy dinh dưỡng, trẻ đẻ non, cơ địa dị ứng hoặc đang mắc bệnh mạn tính hoặc bệnh làm suy giảm sức đề kháng và hệ thống miễn dịch,...cũng là những yếu tố thuận lợi khiến bệnh phát triển.

3. Dấu hiệu của viêm VA cấp tính

Chẩn đoán viêm V.A cấp thường khó khăn, nhất là khi có phối hợp với các viêm nhiễm khác của đường hô hấp trên như viêm họng, viêm mũi xoang. Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân bị viêm VA cấp là:

  • Sốt cao đột ngột: Ở trẻ sơ sinh, trẻ thường có biểu hiện sốt cao đột ngột lên tới 40 độ C - 41 độ C, kèm theo những phản ứng dữ dội như:
  • Co thắt thanh quản, co giật, đau tai. Trẻ lớn hơn có thể có phản ứng màng não nhưng diễn biến nhẹ hơn ở trẻ sơ sinh.
  • Ngạt mũi: Trẻ sơ sinh có thể ngạt mũi hoàn toàn, chảy mũi cả hai bên, lúc đầu chảy mũi nhầy sau đó đặc dần, màu trắng đục, với lượng tăng dần. Trẻ phải thở bằng miệng, thở nhanh, nhịp không đều, bỏ ăn, bỏ bú, quấy khóc. Trẻ lớn hơn không bị ngạt mũi hoàn toàn nhưng thở ngáy, nhất là về đêm, tiếng nói có giọng mũi kín. Ở người lớn nếu có còn bị viêm họng sau lưỡi gà, ù tai, nghe kém.
  • Mủ và nhầy ở mũi: Hốc mũi đầy mủ nhầy, không thể hoặc khó khám vòm họng qua mũi trước. Ở trẻ lớn, sau khi hút sạch mũi nhầy trong hốc mũi, đặt thuốc làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy tổ chức V.A ở nóc vòm phủ bởi lớp mủ nhầy.
  • Họng sưng đỏ: Khám họng thấy niêm mạc đỏ, một lớp nhầy trắng, vàng phủ trên niêm mạc thành sau họng từ trên vòm chảy xuống.
  • Tai: màng nhĩ mất bóng, trở nên xám đục, hơi lõm vào do tắc vòi nhĩ, triệu chứng rất có giá trị để chẩn đoán V.A.
  • Có thể sờ thấy hạch nhỏ ở góc hàm, rãnh cảnh, có khi cả ở sau cơ ức - đòn - chũm, hơi đau, không có hiện tượng viêm quanh hạch.
  • Nếu viêm V.A cấp nếu do vi khuẩn: Xét nghiệm công thức máu sẽ thấy số lượng bạch cầu tăng cao.
Bạch cầu
Xét nghiệm công thức máu sẽ thấy số lượng bạch cầu tăng

Khi viêm V.A kéo dài, tổ chức V.A có thể xơ hóa hoặc quá phát gọi là viêm V.A mạn tính, kích thước V.A tăng lên gây hẹp cửa mũi sau, cản trở thông khí qua mũi, làm giảm lượng không khí vào phổi, dẫn tới thiếu oxy cung cấp cho não. Trẻ chảy mũi thường xuyên, lúc nhiều lúc ít, khi trong khi đục, nhiều khi chảy mũi xanh kéo dài. Trẻ tắc ngạt mũi phải thở bằng miệng, ngủ không ngon giấc, hay giật mình, hoảng hốt, ngủ ngáy và có khi có những cơn ngưng thở khi ngủ rất nguy hiểm. Ban ngày trẻ mệt mỏi, lờ đờ, học hành không tập trung, khó tiếp thu. Có khi trẻ nghe kém, sự phát triển thể chất và trí tuệ đều bị ảnh hưởng. Một số người lớn còn tổ chức V.A cũng thường bị ngạt mũi, chảy mũi nhầy hoặc mũi mủ, hắt hơi, hay khịt khạc. Nếu không soi vòm dễ nhầm là viêm mũi xoang dị ứng.

4. Biến chứng của viêm VA cấp

Trẻ bị viêm V.A cấp nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, không những có thể gây mất chức năng hoạt động của VA mà còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như:

  • Bít tắc đường thở: Bít tắc cửa mũi sau, cản trở đường thở bằng mũi, ứ đọng dịch và mủ ở mũi, có thể gây viêm xoang, viêm tai giữa cấp, viêm thanh quản, viêm khí quản và viêm phế quản.
  • Gây bít tắc lỗ thông khí vào tai giữa, gây viêm tai giữa cấp, viêm tai giữa mủ, thủng nhĩ, nếu không điều trị sẽ dẫn đến giảm thị lực.
  • Chuyển biến thành viêm VA mạn tính.
  • Trường hợp nặng có thể xuất hiện những cơn ngừng thở trong lúc ngủ.
  • Trẻ khó ngủ, ngủ không yên giấc, ngủ ngáy, thường giật mình, nghiến răng khi ngủ và có thể bị đái dầm.
  • Trẻ chậm phát triển về thể chất và tinh thần: Chậm chạp, kém hoạt bát, ít chịu chơi, nghe kém.

Biến chứng ở trẻ bị viêm VA là vô cùng nguy hiểm. Do đó, nếu trẻ có dấu hiệu bị viêm VA cấp, cha mẹ cần đưa bé đến cơ sở Y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Hiện nay tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đang áp dụng phương pháp cắt amidan và nạo VA bằng hệ thống máy Coblator, giúp trẻ ít đau hơn rất nhiều so với phẫu thuật truyền thống và phẫu thuật bằng dao điện đơn cực hay lưỡng cực, trẻ phục hồi nhanh sau 4 - 5 ngày điều trị. Ưu điểm của kỹ thuật này là thời gian phẫu thuật nhanh, không mất máu, cầm máu tốt, không bị bỏng sau mổ, không sưng, quá trình hậu phẫu nhẹ nhàng.

Để được tư vấn và điều trị cắt amidan, nạo VA cho trẻ, quý khách có thể liên hệ hệ thống bệnh viện, phòng khám Vinmec trên toàn quốc TẠI ĐÂY.

XEM THÊM: