Liệu pháp miễn dịch với Keytruda trên bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ: Thay đổi thực hành lâm sàng

24/06/2019
Keytruda

Bài viết được viết bởi PGS.TS.Bác sĩ Nguyễn Tuyết Mai - Trưởng khoa nội Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Nhiều thử nghiệm lâm sàng hiện đã chứng minh liệu pháp miễn dịch với chất ức chế điểm kiểm tra PD-1 Keytruda (pembrolizumab) cải thiện đáng kể tỷ lệ sống thêm khi được sử dụng như điều trị đầu tay cho ung thư biểu mô vùng đầu cổ có biểu hiện PD-L1.

Kết quả cuối cùng của thử nghiệm lâm sàng KEYNote -048 đã được công bố tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ tại Chicago, tháng 6 năm 2019 và chứng minh khả năng sống thêm vượt trội so với điều trị chuẩn (hóa trị liệu Cisplatin và Cetuximab). KEYNOTE-048 cũng đã xác nhận chỉ số PD-L1 CPS nên được xem như một xét nghiệm thường quy nên làm cho bệnh ung thư vùng đầu và cổ.

Về ung thư đầu và cổ

Trên toàn cầu, ung thư đầu và cổ là loại ung thư phổ biến đứng thứ bảy với ước tính khoảng 400.000-600.000 ca mới được chẩn đoán mỗi năm. Trong số này hầu hết có thể mô bệnh học là loại ung thư biểu mô vảy.

Ung thư vùng đầu và cổ giai đoạn IV hoặc tái phát, di căn bao gồm những bệnh nhân có thêm tổn thương thứ 2 (ngoài vị trí u ban đầu) đến các vị trí xa khác trong cơ thể. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với nhóm bệnh nhân này chỉ dưới 4%, con số này cho thấy rất cần thiết phải có những hướng nghiên cứu mới, những thuốc mới nhằm cải thiện kết quả điều trị.

Ung thư đầu và cổ bắt nguồn từ các mô trong hoặc xung quanh miệng, mũi và cổ họng. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư ở đầu và cổ bao gồm hút thuốc, uống rượu và nhiễm các loại papillomavirus (HPV) có nguy cơ cao ở người. Bệnh nhân ung thư đầu và cổ đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể hoặc tái phát trở lại sau khi điều trị ban đầu có rất ít lựa chọn điều trị , vì vậy các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá các phương pháp mới và hiệu quả hơn để điều trị cho loại bệnh ung thư này.

Xét nghiệm não tủy tìm căn nguyên đau đầu
KEYNOTE-048 là xét nghiệm nên làm cho ung thư đầu và cổ

Về Keytruda

Keytruda thuộc về một nhóm thuốc mới gọi là chất ức chế PD-1 đã tạo ra kết quả rất lớn tăng khả năng giúp hệ thống miễn dịch nhận biết và tấn công tế bào ung thư. PD-1 là một loại protein ức chế một số loại phản ứng miễn dịch, cho phép các tế bào ung thư trốn tránh một cuộc tấn công của một số tế bào miễn dịch trong cơ thể. Các loại thuốc ngăn chặn con đường PD-1 giúp tăng cường khả năng của hệ thống miễn dịch cơ thể chống lại tế bào ung thư.

Keytruda trong nghiên cứu: KEYNOTE-048

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III KEYNOTE-048 nhằm đánh giá hiệu quả điều trị của Keytruda hoặc Keytruda đơn trị hoặc Keytruda kết hợp với hóa trị liệu với phác đồ bao gồm Cisplatin, Erbitux (Cetuximab) và 5-Fluorouracil (5- FU), đây là phác đồ hóa trị chuẩn cho ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ.

KEYTRUDA kết hợp với hóa trị liệu đã giảm 40% nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1 với CPS≥20, và kéo dài thời gian sống đến 14,7 tháng so với 11 tháng đối với chỉ sử dụng hóa trị

Với những bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1 với CPS ≥1 cho thấy KEYTRUDA kết hợp với hóa trị liệu giúp giảm 35% nguy cơ tử vong và thời gian sống kéo dài thêm 3 tháng so với chỉ dùng hóa trị. Khi dùng đơn trị KEYTRUDA cũng tạo ra lợi ích sống thêm tương tự như hóa trị.

Keytruda đã được phê duyệt để điều trị cho bệnh nhân bị ung thư đầu cổ tái phát hoặc di căn, tiến triển bệnh trên hoặc sau khi hóa trị liệu có chứa cisplatin.

Keytruda
Keytruda ức chế PD-1 giúp tăng cường khả năng của hệ thống miễn dịch, chống lại tế bào ung thư


Keytruda trong nghiên cứu: KEYNOTE-012

Theo các nhà nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng mang tên KEYNOTE 012 đã chứng minh rằng trên bệnh nhân ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ có bộc lộ PD-L1, Keytruda đơn trị với liều 10 mg/kg mỗi hai tuần mang lại tỷ lệ đáp ứng 20% ​​với điều trị.Là một phần của nghiên cứu bổ sung cho nghiên cứu KEYNOTE 012, 132 bệnh nhân bị ung thư đầu và cổ tế bào vảy tái phát hoặc di căn, các nhà nghiên cứu đã nâng liều 200 mg Keytruda mỗi ba tuần. Tất cả các bệnh nhân này không tính đến mức độ biểu hiện PD-L1 khi được đánh giá kết quả (có nghĩa là kết quả nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân có khối u dương tính và âm tính với PD-L1). Bệnh nhân được theo dõi bằng chụp chiếu mỗi hai tháng. Kết quả hiện tại bao gồm 99 bệnh nhân này cho thấy 18% được điều trị bằng Keytruda, 18 bệnh nhân có đáp ứng một phần và 31% có bệnh ổn định.Gần một nửa số bệnh nhân tham gia đã có các tác dụng phụ liên quan đến điều trị bằng Keytruda. Tác dụng phụ có xu hướng nhẹ và bao gồm mệt mỏi, giảm sự thèm ăn, sốt và phát ban.Những kết quả trên đã được báo cáo trong Hội nghị Ung thư thường niên ASCO 2016. Năm nay tại ASCO 2019, kết quả của thử nghiệm KEYNOTE-012 đã được cập nhật và bổ sung. Cụ thể trên 192 bệnh nhân giai đoạn di căn hoặc tái phát.

  • 85% có đáp ứng và kéo dài ít nhất 6 tháng; 71% có đáp ứng và kéo dài ít nhất một năm.
  • Tại thời điểm 6 tháng sau khi bắt đầu điều trị bằng Keytruda, 58% bệnh nhân còn sống và 25% bệnh nhân còn sống không có tiến triển ung thư.
  • Tại thời điểm một năm sau khi bắt đầu điều trị bằng Keytruda, 38% bệnh nhân còn sống và 17% bệnh nhân còn sống không có tiến triển ung thư.
  • Bệnh nhân đạt được kết quả tốt với Keytruda đã được theo dõi trong thời gian trung bình là 12,5 tháng tại thời điểm thu thập dữ liệu. Khoảng thời gian trung bình mà các kết quả điều trị khác chưa đạt được đối với nhóm bệnh nhân ở giai đoạn bệnh này.
  • Pembrolizumab (Keytruda) thường dung nạp tốt.
Keytruda
Keytruda hiện đang được chấp thuận để điều trị ung thư đầu và cổ giai đoạn tiến triển

Những kết quả này cung cấp thêm bằng chứng rằng điều trị bằng keytruda có thể có các phản ứng chống ung thư lâu dài, trong khi được dung nạp tốt. Keytruda® được chấp thuận để điều trị ung thư đầu và cổ giai đoạn tiến triển

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận Keytruda® trong điều trị ung thư đầu và cổ tiến triển đã không còn đáp ứng với các tác nhân hóa trị liệu có platinum.

Hiện tại VINMEC đã áp dụng liệu pháp này cho bệnh nhân ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ. Kết quả bước đầu khả quan và nhiều bệnh nhân lớn tuổi nhưng vẫn dung nạp tốt . Tùy theo vị trí tổn thương chúng tôi kết hợp thêm với liệu pháp tăng sinh nhiệt tại chỗ, tại vùng.

XEM THÊM: