......

Tìm hiểu hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

Suy hô hấp

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển là bệnh ở phổi, liên quan tới nhiều bệnh lý nội khoa và ngoại khoa, có thể gây suy đa cơ quan, dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện và điều trị sớm.

1. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển là gì?

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (tên tiếng Anh - Acute Respiratory Distress Syndrome, viết tắt - ARDS) là một hội chứng bệnh lý mô tả tình trạng màng phế nang mao mạch của phổi bị tổn thương cấp tính do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hậu quả là bệnh nhân bị suy hô hấp nặng, không đáp ứng với thở oxy liều cao.

Bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển có nguy cơ biến chứng cao:

2. Nguyên nhân gây hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

Viêm màng phổi và điều trị
Viêm phổi nặng là nguyên nhân gây suy hô hấp cấp thường gặp nhất

2.1 Nguyên nhân tại phổi

  • Viêm phổi nặng: Là nguyên nhân thường gặp nhất

Bệnh suy hô hấp cấp tiến triển có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị viêm phổi do vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, Haemophilus Influenzae,...) hoặc viêm phổi do virus (cúm A H5N1, SARS,...);

  • Ngạt nước: Gây tổn thương màng surfactant;
  • Trào ngược dịch dạ dày: Thường gặp ở bệnh nhân hôn mê hoặc say rượu. Dịch dạ dày gây tổn thương phổi trên diện rộng kèm xẹp phổi;
  • Tiêm, hít heroin hoặc sử dụng các loại ma túy khác như cocain, amphetamine,...;
  • Phù phổi do tái tưới máu sau ghép phổi hoặc lấy huyết khối mạch phổi;
  • Chấn thương lồng ngực nặng gây đụng dập phổi.

2.2 Nguyên nhân ngoài phổi

  • Nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn;
  • Truyền máu lượng lớn (> 15 đơn vị);
  • Gãy nhiều xương, chấn thương đầu, bỏng nặng;
  • Dùng thuốc quá liều;
  • Thông nối tim phổi;
  • Đông máu nội mạch lan tỏa;
  • Viêm tụy cấp nặng.

3. Triệu chứng suy hô hấp cấp tiến triển

3.1 Triệu chứng lâm sàng

  • Thời gian xuất hiện nhanh, thường trong khoảng 4 - 48 giờ sau một nguyên nhân gây suy hô hấp cấp tiến triển tại phổi hoặc toàn thân;
  • Khó thở, môi và đầu chi thâm tím, thở nhanh;
  • Nghe phổi có tiếng ran nổ lan tỏa;
  • Nhịp tim nhanh, thở nhanh, vã mồ hôi;
  • Co kéo cơ hô hấp phụ;
  • Ho, đau ngực;
  • Biểu hiện của nguyên nhân gây suy hô hấp cấp tiến triển như sốt, rối loạn đông máu,...

3.2 Triệu chứng cận lâm sàng

  • Xét nghiệm khí máu: PaO2 giảm, thường giảm CO2 kèm theo, tăng gradient oxy động mạch – mao mạch;
  • X-quang phổi: Hình ảnh thâm nhiễm lan tỏa 2 phổi;
  • Chụp cắt lớp vi tính ngực: Hình ảnh tổn thương thâm nhiễm lan tỏa 2 phổi.
Xquang
Hình ảnh X-quang phổi có thể có thâm nhiễm lan tỏa 2 phổi

4. Chẩn đoán hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

4.1 Chẩn đoán xác định

  • Cần nghĩ đến suy hô hấp cấp tiến triển nếu bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh như ngạt nước, hôn mê (nghi hít phải dịch vụ dạ dày), viêm phổi, cúm ác tính hoặc có dấu hiệu lâm sàng của một tình trạng suy hô hấp cấp tiến triển;
  • Chắc chắn là suy hô hấp cấp tiến triển nếu xét nghiệm SaO2 và PaO2 rất thấp dù đã thở oxy hoặc thở máy IPPV; chụp phổi thấy 2 phổi mờ đầu hoặc rải rác hình bông.

4.2 Chẩn đoán phân biệt

Do triệu chứng hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển không đặc hiệu, các bác sĩ cần chú ý phân biệt với các bệnh lý hô hấp khác nhau, bệnh tim mạch, nhiễm độc, nhiễm trùng,... Dựa vào bệnh sử của bệnh nhân kết hợp với khám thực thể tập trung vào hệ thống hô hấp và tim mạch có thể giúp bác sĩ thu hẹp giới hạn chẩn đoán phân biệt và xác định quá trình điều trị tối ưu.

Cần chẩn đoán phân biệt hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển với các tình trạng sau:

  • Phù phổi cấp huyết động: Do suy tim trái cấp hoặc quá tải dịch cấp. Tổn thương trên phim X-quang có dạng cánh bướm, tiến triển nhanh và thoái lui nhanh;
  • Xuất huyết phế nang lan tỏa: Suy hô hấp có kèm mất máu nhanh, bệnh nhân ho ra đờm lẫn máu, soi hút phế quản có máu.

5. Điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

Nguyên tắc điều trị bệnh là nhận diện, điều trị các nguyên nhân, thông khí cơ học với chế độ bảo vệ phổi, cân bằng nước dịch, giảm thiểu biến chứng, dự phòng các biến chứng và đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp cho bệnh nhân. Cụ thể là:

5.1 Thở máy

Mục tiêu cần đạt là:

  • Oxy hóa máu: Khí máu động mạch có PaO2 55 - 80mmHg hoặc số đo SpO2 đầu ngón tay là 88 - 95%;
  • Áp lực cao nguyên (Pplateau) ≤ 30cm nước;
  • pH máu động mạch: 7,25 - 7,45.

Bác sĩ thực hiện cài đặt các thông số máy thở hỗ trợ điều trị suy hô hấp cấp tiến triển cho từng trường hợp bệnh nhân cụ thể.

5.2 An thần - giãn cơ

Sử dụng thuốc an thần hoặc phối hợp thuốc an thần và giãn cơ đảm bảo bệnh nhân thở theo máy hoàn toàn (điểm Ramsay đạt 4 - 5). Tuy nhiên, thuốc an thần - giãn cơ cần được giảm liều và dừng đúng lúc khi bệnh tiến triển tốt lên để cai thở máy kịp thời, bỏ thở máy sớm nhất có thể.

5.3 Đảm bảo huyết động và cân bằng dịch vào ra

Về thực chất hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển là một dạng phù phổi cấp tổn thương. Vì vậy, không nên truyền dịch quá nhanh và nhiều cho bệnh nhân. Không truyền dịch và cho bệnh nhân ăn uống quá 1,5 lít dịch/ngày.

Hằng ngày, nhân viên y tế cần đánh giá cân bằng dịch vào - ra ở bệnh nhân suy hô hấp cấp tiến triển, đảm bảo cân bằng âm hoặc bằng 0. Nếu bệnh nhân tăng cân, cân bằng dịch dương cần dùng furosemid tiêm tĩnh mạch với liều thích hợp để điều chỉnh đưa bệnh nhân về trọng lượng cơ thể ban đầu và duy trì áp lực tĩnh mạch trung tâm 6 - 8cm nước. Áp lực mao mạch phổi bít là 8 - 10mmHg (nếu đặt catheter Swan Ganz).

5.4 Các phương pháp điều trị khác

  • Sử dụng corticoid với liều thấp;
  • Kiểm soát glucose máu, nếu đường máu > 10,0mmol/l cần làm xét nghiệm đường máu mao mạch tại giường 3 giờ/lần và dùng insulin để đạt mức đường máu 6-10mmol/l;
  • Liệu pháp kháng sinh chống nhiễm khuẩn: Dùng ngay kháng sinh phương pháp xuống thang, sau đó điều chỉnh theo kháng sinh đồ nếu có;
  • Trong trường hợp viêm phổi do virus cúm A cần thực hiện theo phác đồ điều trị cụ thể;
  • Dự phòng tắc mạch: Dùng Heparin liều dự phòng;
  • Dự phòng loét đường tiêu hóa: Sử dụng thuốc ức chế bơm proton, ví dụ omeprazol;
  • Biện pháp huy động phế nang;
  • Đảm bảo đủ hemoglobin (>8g/l).

5.5 Theo dõi và điều trị củng cố

Sau vài ngày điều trị, nếu tiến triển tốt, bệnh nhân sẽ tỉnh, sắc mặt hồng hào, mạch và huyết áp ổn định.

Việc nghiên cứu bỏ máy thở cần thận trọng hơn so với các dạng suy hô hấp cấp khác, và nên sử dụng các biện pháp trung gian như hô hấp tự nhiên với áp lực dương liên tục CPAP hoặc hô hấp nhân tạo bắt buộc ngắt quãng IMV, SIMV (cứ 2 - 4 nhịp thở bình thường lại có 1 nhịp thở bắt buộc của máy).

5.6 Dự phòng

  • Tích cực điều trị viêm phổi đề phòng tiến triển thành hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển;
  • Cho bệnh nhân nằm đầu cao, đặc biệt ở những người bệnh có rối loạn ý thức.

6. Tiến triển và tiên lượng

Nếu không được điều trị đúng cách, chắc chắn bệnh nhân suy hô hấp cấp tiến triển sẽ tử vong trong vài giờ đến vài ngày. Biểu hiện là:

  • Rối loạn ý thức dẫn đến hôn mê do thiếu oxy não;
  • Mạch nhanh dần, huyết áp hạ rồi trụy mạch;
  • Nếu bệnh nhân qua khỏi, tiên lượng xa vẫn khó đánh giá, bệnh nhân có thể bị xơ phổi, suy hô hấp mạn tính, tâm phế mạn tính;
  • Tỷ lệ tử vong chung là 50 - 70%. Tỷ lệ tử vong của bệnh chủ yếu do nguyên nhân nhiễm trùng huyết và suy cơ quan ngoài phổi. Yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân là: tuổi cao, mắc bệnh gan mạn tính, xơ gan, nghiện rượu, nhiễm trùng huyết, suy giảm miễn dịch, mắc bệnh thận mạn tính, suy bất kỳ cơ quan ngoài phổi,...
  • Phục hồi chức năng: Phần lớn bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển sẽ phục hồi chức năng phổi gần như bình thường trong vòng 6 tháng.

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển có tỷ lệ tử vong cao. Phát hiện bệnh sớm có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Vì vậy, khi có biểu hiện suy hô hấp cấp tiến triển, bệnh nhân nên nhanh chóng đi kiểm tra để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

XEM THÊM:

17.1K

Bài viết liên quan