Xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu để làm gì?

28/08/2019
xet-nghiem-soi-can-lang-nuoc-tieu-de-lam-gi

Xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu có thể giúp soi cặn nước tiểu tìm ra nguyên nhân của một số vấn đề sức khỏe bạn đang gặp phải. Kết quả cặn lắng nước tiểu còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác.

1. Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu là làm gì?

Trong nước tiểu có những thành phần hữu hình được tạo thành trong quá trình chuyển hóa hay bệnh lý và được đào thải qua thận ra nước tiểu. Xét nghiệm soi cặn nước tiểu để tìm các thành phần hữu hình ấy trong nước tiểu như: hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô, các loại trụ hình, tinh thể. Khi để lắng cặn nước tiểu, những thành phần đó tập trung lại, có thể phát hiện bằng cách xét nghiệm lắng cặn nước tiểu dưới kính hiển vi.

Có 2 cách soi cặn nước tiểu là soi tươi và cặn Addis:

  • Soi tươi: Có thể lấy nước tiểu giữa dòng vào buổi sáng hoặc bất kỳ trong ngày cho vào ống nghiệm, lấy một giọt nước tiểu không ly tâm soi tươi cặn nước tiểu qua kính hiển vi với vật kính 10 X;
  • Cặn Addis: 6h sáng cho người bệnh đái hết nước tiểu trong đêm, ghi giờ, uống 200ml nước sôi để nguội. Sau đó bệnh nhân nằm nghỉ và đái gom vào bô (được rửa sạch bằng xà phòng). 9 giờ cho bệnh nhân đái lần cuối sau đó đo số lượng nước tiểu và ghi vào giấy xét nghiệm. Lấy 10ml nước tiểu mang tới khoa xét nghiệm.
xet-nghiem-soi-can-lang-nuoc-tieu-de-lam-gi-1
Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu

2. Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu dùng để làm gì?

Không chỉ là một phần của khám sức khỏe định kỳ, xét nghiệm cặn lắng nước tiểu được thực hiện để:

  • Kiểm tra bệnh hoặc nhiễm trùng đường tiểu. Các triệu chứng của nhiễm đường tiểu có thể bao gồm nước tiểu có màu hoặc có mùi hôi, đau khi đi tiểu, đi tiểu buốt, đau sườn, máu trong nước tiểu hoặc sốt;
  • Kiểm tra điều trị các bệnh như tiểu đường, sỏi thận, nhiễm trùng đường tiểu (UTI), cao huyết áp hoặc một số bệnh về thận hoặc gan.

3. Đánh giá kết quả cặn lắng nước tiểu

3.1. Bình thường

Bình thường nếu trong nước tiểu không có hoặc có rất ít hồng cầu, bạch cầu niệu (0- 2 hồng cầu/vi trường; 0- 3 bạch cầu/vi trường), một vài tế bào dẹt do tế bào niêm mạc niệu quản thoái hoá, đôi khi có một vài tinh trùng (nếu ở nam giới).

3.2. Bệnh lý

  • Đái ra hồng cầu:

Đái máu đại thể: Đái máu với số lượng nhiều, mắt thường nhìn thấy nước tiểu có màu hồng như nước rửa thịt cho đến màu đỏ, để lâu hồng cầu sẽ lắng xuống. Lượng máu tối thiểu bắt đầu làm thay đổi màu sắc nước tiểu vào khoảng 1 ml máu trong 1 lít nước tiểu. Soi cặn nước tiểu thấy hồng cầu dày đặc vi trường.

Nếu hồng cầu đã bị ly giải, xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu cho kết quả hồng cầu dương tính, nhưng khi soi cặn nước tiểu sẽ không thấy hình ảnh của hồng cầu.

Trong lâm sàng, đái ra hồng cầu gặp trong các bệnh viêm cầu thận, lao thận và sỏi tiết niệu (sỏi đài - bể thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), viêm bàng quang, ung thư bàng quang; có thể do các bệnh toàn thân (bệnh hệ thống tạo máu, rối loạn đông máu).

Khoảng 1% các trường hợp đái ra máu không tìm thấy nguyên nhân.

  • Đái ra bạch cầu:

Tế bào bạch cầu hình đĩa, sáng có nhiều hạt bên trong, có thể thấy hình tế bào bạch cầu nguyên vẹn (kích thước to gấp 1,5 - 2 lần kích thước tế bào hồng cầu) hoặc teo nhỏ hoặc tập trung thành đám mủ (nếu bạch cầu đã bị thoái hóa).

xet-nghiem-soi-can-lang-nuoc-tieu-de-lam-gi-2
Đánh giá kết quả cặn lắng nước tiểu có thể phát hiện bệnh đái ra bạch cầu
  • Đái ra trụ hình:

Trụ hình là các cấu trúc hình trụ có trong nước tiểu. Bản chất của trụ là mucoprotein - một loại protein do tế bào ống thận bị tổn thương tiết ra gọi là protein Tam - Holsfall và protein từ huyết tương lọt qua cầu thận vào nước tiểu. Trong điều kiện được cô đặc và pH nước tiểu acid, chúng bị đông đặc và đúc khuôn trong ống lượn xa rồi bong ra theo nước tiểu. Trụ niệu là biểu hiện tổn thương thực thể ở cầu thận hoặc ống thận.

  • Những thành phần cặn lắng khác:

Bên cạnh đó, một số chất vô cơ, hữu cơ có thể lắng cặn khi nước tiểu để lâu. Nếu các tinh thể có nhiều sẽ có nguy cơ tạo sỏi thận. Tùy theo thay đổi về sinh lý hay bệnh lý, trong nước tiểu có các tinh thể: urat, phosphat,... Những tế bào khác có kích thước vừa và lớn gồm những tế bào biểu mô, là những tế bào già cỗi bong ra, không có giá trị trong chẩn đoán nếu số lượng ít, nhưng nếu có nhiều thì có thể do viêm âm hộ, viêm niệu đạo, bàng quang hoặc đường niệu. Những tế bào biểu mô có những vùi mỡ óng ánh là đặc hiệu của hội chứng thận hư.

XEM THÊM: