Biến chứng và di chứng thường gặp sau gãy xương

28/04/2019
bó bột

Các dấu hiệu gãy xương sau tai nạn và phương pháp điều trị đã được đề cập nhiều, tuy nhiên những biến chứng, di chứng sau gãy xương chưa được chú trọng và để lại nhiều hậu quả vô cùng đáng tiếc và làm giảm chất lượng cuộc sống, khả năng lao động của bệnh nhân sau này.

1. Một số nguyên nhân gây gãy xương

  • Gãy xương do tai nạn giao thông: Hiện nay không khó để có thể bắt gặp những vụ tai nạn giao thông trên đường, khi đang di chuyển với một vận tốc lớn không may gặp sự cố khiến cho chi thể dễ va đập vào vật cứng như mặt đường, phương tiện khác...làm cho xương bị gãy. Đây là một trong những nguyên nhân gãy xương hay gặp nhất.
  • Gãy xương do tai nạn lao động: Một phần do chủ quan, một phần do thực sự không được trang bị đầy đủ trang phục bảo hộ lao động toàn diện, rất nhiều nhân công gặp phải tai nạn vô cùng đáng tiếc như vật cứng rơi vào người hay ngã giàn giáo...những nguyên nhân này thường gây gãy xương nặng và có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng.
  • Gãy xương gặp trong thể thao: Có thể gặp rất nhiều trong các môn thể thao có sức thi đấu quyết liệt như bóng đá, bóng bầu dục,những chấn thương như vậy làm ảnh hưởng cực kì lớn đến sự nghiệp của vận động viên.
bó bột
Gãy xương có thể do nhiều nguyên nhân

  • Gãy xương do mỏi: Hay gặp nhất ở những người đi bộ đường dài ngày hay những vận động viên chạy marathon.
  • Gãy xương do bệnh lý: Tại các chuyên khoa chấn thương chỉnh hình có thể bắt gặp những bệnh nhân bị viêm xương tủy xương, ung thư xương gây gãy xương. Những bệnh lý này làm ảnh hưởng đến cấu trúc giải phẫu của xương dẫn đến xương ngày một yếu dần, hậu quả cuối cùng là gãy xương.
  • Gãy xương do loãng xương: Có thể gặp ở những phụ nữ lớn tuổi, nguyên nhân do tình trạng lão hóa của cơ thể làm giảm tổng hợp những chất giúp xương chắc khỏe, hoặc do khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể ngày một kém đi.

2. Những dấu hiệu chắc chắn bệnh nhân gãy xương

Nếu không nắm bắt được những dấu hiệu chính của gãy xương, rất có thể sẽ bị xử trí sai và làm nặng tình trạng của bệnh nhân hơn.

  • Sốc do đau, mất máu...biểu hiện dễ thấy nhất là vã mồ hôi lạnh, mạch nhanh thường gặp ở những trường hợp gãy xương lớn như xương đùi, xương chậu hay gãy nhiều xương cùng lúc.
  • Đau tại vị trí gãy xương
  • Không thể vận động chi thể như: Không nhấc chân lên được khỏi nền hay không thể dơ được tay lên
  • Chi thể bị cong vẹo, biến dạng: Do xương gãy nên trục của chi cũng thay đổi theo.
  • Có thể nghe thấy tiếng lạo xạo do các mảnh xương cọ vào nhau.
chụp X quang
Chụp X - Quang giúp phát hiện chính xác tổn thương xương

3. Biến chứng, di chứng thường gặp sau gãy xương

Có rất nhiều biến chứng và di chứng trong quá trình gãy xương, nếu không được nhận biết và xử trí đúng cách, có thể gây hậu quả vô cùng đáng tiếc cho bệnh nhân.

Biến chứng toàn thân:

  • Sốc do chấn thương, sốc do đau, mất nhiều máu do xương gãy: gặp sau gãy các xương lớn như xương đùi, xương chậu, hay gãi nhiều xương cùng lúc hay gãy xương có kèm tổn thương nhiều cơ quan khác.
  • Tắc mạch máu do mỡ: Khi xương gãy các hạt mỡ trong ống tủy xương đi ra ngoài, theo mạch máu nó đi khắp các nơi trong cơ thể, nếu bị tắc lại ở vị trí nào sẽ biểu hiện triệu chứng rõ rệt và rất nguy hiểm. Ví dụ như nhồi máu phổi do các hạt mỡ thuyên tắc ở mạch phổi.
  • Loét các điểm tỳ đè: Do trong quá trình điều trị gãy xương bệnh nhân phải nằm tại chỗ trong thời gian dài, các phần cứng tiếp xúc trực tiếp với mặt giường dễ gây nên loét các vùng như vùng cùng cụt, gót chân...tình trạng này còn nặng nề hơn nếu bệnh nhân không được cung cấp đủ dinh dưỡng hay có những bệnh kết hợp khác như tiểu đường.
  • Viêm phổi, viêm tiết niệu: Nằm lâu, không vận động tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong cơ thể dẫn đến tình trạng viêm nhiễm như viêm phổi, viêm tiết niệu rất phiền toái và có thể gây tử vong ở những bệnh nhân cao tuổi, đề kháng yếu.
  • Táo bón: do nằm lâu, không vận động nhiều nên rất dễ bị táo bón, làm ảnh hưởng đến khả năng dinh dưỡng, tinh thần của người bệnh.

Biến chứng tại chỗ: Biến chứng tại chỗ có thể là do tác động của lực chấn thương vào vị trí gãy xương và tổ chức phần mềm xung quanh, cũng có thể do phương pháp điều trị không đúng hay quá trình phục hồi sai nguyên tắc.

  • Xương chậm liền: Bình thường 3 tháng kể từ sau khi điều trị thì xương đã liền vững có thể thấy rõ được trên phim chụp X-Quang. Quá thời gian này mà xương chưa liền được hiểu là tình trạng xương chậm liền
  • Xương không liền: Biểu hiện tại vị trí gãy xương còn đau, có cử động bất thường hay trên X-Quang không có dấu hiệu xương liền, các triệu chứng này tồn tại quá 6 tháng thì được gọi là xương không liền, cần phải có phương pháp điều trị thay thế.
  • Xương liền bị lệch: Do trong quá trình nắn chỉnh xương hay do các di lệch thứ phát sau khi nắn chỉnh, kết hợp xương. Sự liền lệch này không những ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn làm giảm chức năng của chi thể.
  • Viêm xương tủy xương: Đầu xương bị gãy nếu có hình chéo vát nếu không được cố định đúng cách sẽ chọc thủng da ra ngoài, đấy là đường dẫn cho vi khuẩn vào phát triển, có nguy cơ gây nên tình trạng viêm xương tủy xương và làm cho quá trình liền xương và việc điều trị của bác sĩ trở nên đáng ngại hơn.
  • Đứt, dập mạch máu: Các mạch máu có thể bị xương làm đứt rách do chọc vào hay do mạch máu tình cờ nằm giữa hai đầu xương gãy. Làm máu chảy nhiều, thương tổn thêm nặng nề.
  • Tổn thương thần kinh lân cận: Có thể do quá trình chấn thương mạnh làm đụng giập, đứt rách dây thần kinh hay do sai sót trong quá trình xử trí chấn thương mà làm tổn thương thêm thần kinh. Thần kinh bị đứt rất khó phục hồi sẽ làm giảm khả năng vận động, dinh dưỡng, cảm giác của chi thể sau này.
  • Hội chứng chèn ép khoang: Nêu các tổn thương xương nặng nề, gây gãy xương phức tạp hay tổn thương mạch máu thần kinh kết hợp làm tổ chức phù nề nhiều có thể dễ gây chèn ép các mạch máu, thần kinh đi nuôi các cơ quan đó, nếu không được giải phóng kịp thời sẽ gây hoại tử chi thậm chí phải cắt cụt chi xử trí cấp cứu. Tình trạng này hay gặp nhất khi bị gãy xương cẳng chân.
  • Teo cơ, xơ cứng, hạn chế vận động: Nếu sau khi điều trị bệnh nhận không được phục hồi chức năng một cách bài bản, khoa học đúng lộ trình sẽ rất dễ làm các cơ teo đi, khớp bị cứng lại làm giảm đi sức mạnh của bản thân. Cần phải được tập luyện và dinh dưỡng đúng cách để không gặp phải các di chứng này.

Gãy xương đòi hỏi quá trình điều trị tích cực, hợp lý, đúng lộ trình. Nếu không hiểu biết hay chủ quan trong vấn đề điều trị, phục hồi có thể dẫn đến các biến chứng, di chứng không mong muốn, làm suy giảm khả năng vận động, lao động cà chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta.

XEM THÊM: