Mất bao lâu để viêm cầu thận mạn tiến triển thành suy thận?

24/07/2019
Thận

Bài viết được tư vấn bởi PGS.TS.BS Trần Lê Linh Phương - Trưởng khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh Viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang.

Bệnh viêm cầu thận mạn có thể tiến triển thành suy thận gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nếu không được phát hiện sớm và có những biện pháp điều trị kịp thời. Để biết được chính xác tình trạng thận, người bệnh buộc phải thực hiện sinh thiết thận, đọc cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vi và kết hợp nhiều loại xét nghiệm khác.

1. Thời gian để viêm cầu thận mạn tiến triển thành suy thận

Suy thận là tình trạng suy giảm chức năng thận, thận không thể thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cơ thể.

Để biết bệnh viêm cầu thận mạn có tiến triển thành suy thận không, trong thời gian bao lâu, bệnh nhân cần phải thực hiện các xét nghiệm đánh giá chức năng thận mỗi tháng một lần, liên tục trong 3 tháng đầu tiên tính từ khi phát hiện bệnh và khi đang điều trị bệnh.

Đây là bệnh lý mãn tính vì thế ngay cả khi bệnh đã khỏi hẳn thì người bệnh cũng cần theo dõi đánh giá chức năng thận định kỳ 3 - 6 tháng/lần để kiểm tra tình trạng. Nếu bệnh đã ổn định hơn thì có thể kéo dài thời gian thực hiện đánh giá chức năng thận thành 1 năm/lần.

Nếu kết quả đánh giá chức năng thận tốt, thận chưa suy vào lúc phát hiện và điều trị bệnh, bệnh đáp ứng với điều trị, bệnh nhân có chế độ sinh hoạt hợp lý, tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn của bác sĩ về sinh hoạt, điều trị và đạm niệu về âm tính hoàn toàn thì bệnh viêm thận mạn có thể ngăn chặn nhiều loại viêm thận mạn không tiến triển thành suy thận.

2. Các xét nghiệm đánh giá chức năng thận

Mất bao lâu để viêm cầu thận mạn tiến triển thành suy thận?
Cần thực hiện một số xét nghiệm để đánh giá chức năng thận

Để biết được chính xác tình trạng thận, người bệnh buộc phải thực hiện sinh thiết thận, đọc cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vi và kết hợp nhiều loại xét nghiệm khác.

2.1. Các xét nghiệm sinh hóa

Blood Urea Nitrogen và Creatinin là hai chất được thận thải ra khỏi cơ thể thông qua nước tiểu. Đây là sản phẩm của quá trình cơ thể chuyển hóa đạm. Trung bình, Blood Urea Nitrogen: 6-24 mg/dL (tương đương 2,5-8 mmol/L) và creatinin: 0,5-1,2mg/dL (tương đương 45-110 mmol/L). Trị số bình thường có thể thay đổi tùy theo từng phòng xét nghiệm. Nếu các trị số này trong máu tăng lên thì chứng tỏ chức năng thận đang xấu đi.

Để có kết quả chính xác hơn, bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân thực hiện thêm xét nghiệm urea/ máu và urea/ nước tiểu, creatinine/máu và creatinine/ nước tiểu. Ở người bình thường, độ thanh thải creatinine là 70-120mL/phút. Nếu độ thanh thải creatinine giảm thì chức năng thận đang bị suy giảm.

2.2. Điện giải đồ

Rối loạn chức năng thận gây mất cân bằng chất điện giải trong cơ thể nên một trong những xét nghiệm đánh giá chức năng thận không nên bỏ qua là điện giải đồ.

  • Sodium (Natri): Ở người bình thường, natri máu là 135 - 145 mmol/L. Người suy thận có thể mất natri qua da, đường tiêu hóa hoặc qua thận. Do đó, natri máu ở người suy thận giảm. Các biểu hiện của giảm natri máu chủ yếu ở hệ thần kinh như: nhức đầu, buồn nôn, nôn, người lừ đừ, nặng hơn là hôn mê và co giật.
  • Potasium (kali): Ở người bình thường, kali máu ở ngưỡng từ 3,5 - 4,5 mmol/L. Suy thận khiến việc đào thải kali giảm khiến kali máu ở bệnh nhân suy thận tăng. Biểu hiện cụ thể gồm: người mệt mỏi, dị cảm, cơ thể mất phản xạ dần, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.
  • Canxi máu: Ở người bình thường, canxi máu là 2,2 - 2,6 mmol/L. Người bị suy thận sẽ có canxi máu giảm và tăng phosphat. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là các dấu hiệu kích thích thần kinh cơ như: co cứng cơ, tăng phản xạ gân xương, co giật, rối loạn nhịp tim.

2.3. Rối loạn cân bằng kiềm toan

pH máu bình thường ở mức 7,37 - 7,43 cho phép hoạt động tối ưu của các men tế bào, các protein co cơ và yếu tố đông máu. Bệnh nhân suy thận sẽ bị giảm thải các axit hình thành trong quá trình chuyển hóa hoặc mất bicarbonat gây ra tình trạng toan chuyển hóa cho cơ thể.

Toan hóa máu gây rối loạn hô hấp, rối loạn nhịp tim, làm tình trạng tăng kali máu trở nên nghiêm trọng hơn.

Kiểm tra tình trạng toan máu được thực hiện bằng cách đo pH máu hoặc thông qua bicarbonat.

Đánh giá tình trạng toan máu bằng cách đo pH máu hoặc gián tiếp bằng bicarbonat.

2.4. Axit uric máu

Axit uric máu ở người bình thường như sau:

Ở nữ giới: 4,0 ± 1mg/dL (360 μmol/lít).

Ở nam giới: 5,1 ± 1,0 mg/dL (420 μmol/lít).

Tổn thương thận khiến axit uric máu tăng, đặc biệt là ở bệnh nhân suy thận do không thải được axit uric ra khỏi cơ thể.

Ngoài gợi ý bệnh suy thận, axit uric máu tăng còn là biểu hiện của sỏi ở hệ tiết niệu.

2.5. Tổng phân tích nước tiểu

Tỷ trọng nước tiểu của người lớn bình thường ở mức: 1,01 - 1,020. Giảm chức năng thận ở giai đoạn đầu sẽ làm giảm độ cô đặc của nước tiểu khiến tỷ trọng nước tiểu giảm theo. Nếu nghi ngờ suy thận, bệnh nhân sẽ được chỉ định làm thêm xét nghiệm so sánh tỷ trọng nước tiểu ngày và đêm, nghiệm pháp cô đặc nước tiểu, nghiệm pháp pha loãng nước tiểu...

Nếu mẫu tổng phân tích nước tiểu có protein thì kết quả thu được không đánh giá chính xác tình trạng tổn thương của các cầu thận, nhưng nó có tính gợi ý để bệnh nhân được chỉ định thực hiện tiếp xét nghiệm định lượng đạm niệu 24 giờ.

Xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu
Tổng phân tích nước tiểu và và máu để đánh giá tình trạng tổn thương của thận

2.6. Định lượng protein nước tiểu 24 giờ

Định lượng protein trong nước tiểu ở mức bình thường là từ 0 - 0,2g/24h.

Protein niệu do bệnh cầu thận thường dai dẳng và lớn hơn 0,3 g/l.

Các bệnh có thể làm tăng protein niệu như: viêm cầu thận cấp do nhiễm độc thuốc hoặc nhiễm độc hóa chất, suy thận... hoặc các bệnh lý khác có ảnh hưởng đến thận như: đái tháo đường, lupus đỏ, tăng huyết áp...

2.7. Albumin huyết thanh

Albumin huyết thanh ở mức bình thường là khoảng từ 35 - 50 g/L, chiếm khoảng 50 - 60% protein toàn phần. Bệnh lý cầu thận cấp khiến albumin giảm mạnh.

2.8. Protein toàn phần trong huyết tương

Chỉ số protein toàn phần trong huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Bình thường, protein toàn phần trong huyết tương là 60 - 80 g/L. Protein toàn phần giảm khi màng lọc cầu thận của các bệnh nhân bị tổn thương.

2.9. Tổng phân tích tế bào máu

Nếu bệnh nhân suy thận bị giảm số lượng hồng cầu thì bệnh nhân đó đã mắc suy thận mạn, nhất là khi giảm số lượng hồng cầu đi kèm với không tăng hoặc giảm hồng cầu lưới. Bệnh nhân có thể bị thiếu máu thiếu sắt.

2.10. Siêu âm bụng

Siêu âm bụng có thể phát hiện được tình trạng thận bị ứ nước do tắc nghẽn niệu quản. Trường hợp thận bị ứ nước hai bên có thể gây suy thận mạn hoặc suy thận cấp.

Ngoài ra, siêu âm bụng còn giúp phát hiện các bệnh lý đa nang thận di truyền, bẩm sinh.

Qua hình ảnh siêu âm, nếu thấy thận có kích thước nhỏ hay thay đổi cấu trúc bất thường thì có thể gợi ý mắc bệnh lý thận mạn tính.

Siêu âm đo độ mờ da gáy
Siêu âm bụng có thể phát hiện được tình trạng thận bị ứ nước do tắc nghẽn niệu quản

2.11. Chụp CT scan bụng

Chụp CT scan bụng giúp quan sát rõ hình ảnh toàn bộ hệ tiết niệu nhờ đó phát hiện chính xác tình trạng bệnh. Phương pháp chụp có tiêm thuốc cản quang cho phép dựng lại hình ảnh hệ tiết niệu, không những phát hiện được bệnh mà còn thấy rõ vị trí và chỉ ra nguyên nhân gây bế tắc niệu quản.

Chú ý, chỉ sử dụng chụp CT scan trong các trường hợp nghi ngờ suy thận do tắc nghẽn đường tiết niệu.

2.12. Xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ

Xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ là xét nghiệm duy nhất có thể đánh giá chức năng của từng bên thận, nhìn rõ chức năng lọc máu, tỷ lệ phần trăm tưới máu, tham gia chức năng của từng thận.

XEM THÊM: